Giai Nobel 2012
01:43:12 AM Ngày 23 Tháng Chín, 2019 *

Chào mừng bạn đến với Diễn Đàn Vật Lý.

Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Hay bạn đã đăng ký nhưng cần gửi lại email kích hoạt tài khoản?
Vui lòng nhập tên Đăng nhập với password, và thời gian tự động thoát





Lưu ý: Đây là diễn đàn của Thư Viện Vật Lý. Tài khoản ở Diễn Đàn Vật Lý khác với tài khoản ở trang chủ Thuvienvatly.com. Nếu chưa có tài khoản ở diễn đàn, bạn vui lòng tạo một tài khoản (chỉ mất khoảng 1 phút!!). Cảm ơn các bạn.
Phòng chát chít
Bạn cần đăng nhập để tham gia thảo luận
Vật lý 360 Độ
Chốt đáp số cho bài toán bán kính proton
20/09/2019
Tranh cãi vẫn chưa dứt về chuyện tìm thấy sóng hấp dẫn
18/09/2019
Lần đầu tiên nghe được ‘tiếng khóc chào đời’ của một lỗ đen mới sinh
17/09/2019
Tìm hiểu nhanh vật lí hạt (Phần 7)
16/09/2019
Tìm hiểu nhanh vật lí hạt (Phần 6)
16/09/2019
Giải được bí ẩn nhiễm điện do cọ xát
15/09/2019

follow TVVL Twitter Facebook Youtube Scirbd Rss Rss
  Trang chủ Diễn đàn Tìm kiếm Đăng nhập Đăng ký  


Quy định cần thiết


Chào mừng các bạn đến với diễn đàn Thư Viện Vật Lý
☞ THI THỬ THPT QG LẦN 8 MÔN VẬT LÝ 2019 - 21h00 NGÀY 9-6-2019 ☜

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 61 
 vào lúc: 11:11:22 PM Ngày 25 Tháng Năm, 2019 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     Nội dung đã pos:

          7. Lưỡng tính sóng hạt của một hạt vật chất
              a. Động lượng, khối lượng, năng lượng thực theo phương và chiều của hạt vật chất chuyển động
               b. Lưỡng tính sóng hạt của một hạt vật chất – Tiên đề 2
               c. Phương trình vi phân sóng năng lượng của hạt vật chất chuyển động


    Bình luận 4
          1. Chúng ta lần đầu tiên tính toán và giải thích rõ bản chất sóng hạt của hạt vật chất có nguyên nhân là động tính của Khí âm. Tần số dao động f của tính sóng chính là sự biến thiên theo thời gian của độ co giãn thời gian γt , phải tỷ lệ với nguyên nhân sinh ra nó là động lượng trường khí âm dương đã nghiên cứu ở trên thể hiện qua Tiên đề 2 của khảo cứu:
Tiên đề 2: Tần số giao động hệ số co dãn thời gian trường khí âm dương f tỷ lệ với động lượng đã gây nên nó.
            f =pc/h = Eđ/h
          Nhà khoa học Pháp thế kỷ 19 Louis de Broglie là người đầu tiên trên Thế giới dự cảm được tính sóng của hạt vật chất. Tuy nhiên, ông không biết được nguyên nhân sâu xa của tính sóng đó là do động tính của Khí âm trong trường khí âm dương, do đó, tần số của sóng, thông số đặc trưng cho biến động về thời gian cùa trường khí âm dương, phải tỷ lệ với động lượng, nguyên nhân gây nên tần số đó. Vì thế, ông đề xuất bước sóng tỷ lệ nghịch với động lượng dựa trên sự qui nạp sóng ánh sáng tương đối máy móc, theo phương trình:
            λ = h/p => λ = v/f = h/p => f = pv/h
          Như vậy, tần số sóng, theo Broglie, tỷ lệ với pv.
          Trong khi đó, do biết rõ nguyên nhân sinh ra tính sóng của hạt vật chất, chúng ta biết tần số phải tỷ lệ với động lượng p, và tính theo công thức:
          f  ~ p => f = Eđ/h => λ = v/f = vh/Eđ =vh/pc = βh/p
          Suy ra   λ = βh/p
          Như vậy, bước sóng của hạt vật chất chuyển động theo tính toán của chúng ta và đề xuất của De Broglie chênh nhau β lần, tần số cũng có sai biệt β lần. Chỉ có thực nghiệm mới phân định đúng sai được giữa đề xuất của De Broglie và tính toán của chúng ta. Tuy nhiên, khi β lớn, xấp xỉ 1 trong các thí nghiệm sẽ rất khó phân biệt.
          Đối với hạt vật chất chuyển động, tính sóng thể hiện qua đồ thị năng lượng như sau
         
          Đây là lần đầu tiên trong khoa học mô tả được phương trình năng lượng sóng của hạt vật chất.
          2. Chúng ta đã xây dựng nên phương pháp tính toán hàm sóng năng lượng của hạt vật chất chuyển động trong trường thế thông qua hàm trung gian ϕ với phương trình, tuy hơi khác, nhưng vai trò và kết quả gần giống như phương trình Schrödinger trong cơ học lượng tử, nhưng không phải là một tiên đề mà là một hệ quả logic khoa học. Kết quả tính toán của chúng ta cho ra năng lượng của sóng hạt vật chất chuyển động chứ không đơn thuần là xác suất xuất hiện của hạt trong không gian.
          Như vậy, chúng ta đã giải thích rất rõ ràng nguyên nhân, cơ chế cũng như biểu hiện của lưỡng tính sóng hạt của hạt vật chất, một khái niệm khó hình dung và còn chưa minh bạch trong khoa học hiện đại. Rõ ràng, theo phương trình sóng vật chất đã xây dựng, sóng năng lượng hạt vật chất không phải hình sin chính xác. Thực chất Vũ trụ của ta đang sống đều mang bản chất sóng, kể cả những hạt vật chất đứng yên thông qua sự rung lắc quanh vị trí cân bằng. Đó là sự thể hiện thuộc tính của Khí âm trong trường khí âm dương.
          3. Áp dụng những kết quả tính toán trên, chúng ta đã giải thích một cách rõ ràng cơ chế hiệu ứng “đường hầm” trong cơ học lượng tử mà khoa học ngày nay ghi nhận nhưng giải thích một cách không minh bạch và “thần bí”.



 62 
 vào lúc: 10:25:27 PM Ngày 23 Tháng Năm, 2019 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     Nội dung đã pos:

    6. Chuyển động của hạt vật chất
          6.1. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tuyệt đối
          6.2. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối
              6.2.a. Không gian được bảo toàn trong HQC-ζ tương đối
               6.2.b. Hệ số co dãn thời gian γt trong HQC-ζ tương đối
               6.2.c. Sơ đồ, tính toán vận tốc chuyển động trong các HQC
               6.2.d. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối
               6.2.e. Chuyển đổi tọa độ trong HQC-ζ tương đối


     Bình luận 3
          1. Chúng ta, lần đầu tiên, đã tiến hành xác định ý nghĩa một số đại lượng vật lý như: vận tốc thể hiện tính âm, động lượng thể hiện cường độ tính âm, lực thể hiện xu thế vận động, công thể hiện mức độ đáp ứng cho xu thế vận động, mang lại ý nghĩa triết học cho các đại lượng vật lý đó. Khi nắm vững những ý nghĩa triết học đó, chúng ta hiểu các quá trình vật lý một cách sâu sắc hơn, đi vào bản chất của khái niệm. Chú ý rằng, các công thức đó chỉ tính cho HQC-ζ tuyệt đối, đối với HQC tương đối sẽ có sai khác.
          2. Khi nghiên cứu chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tuyệt đối, công thức năng lượng trong chuyển động của hạt vật chất chỉ rõ: Trong HQC-ζ tuyệt đối, hạt vật chất không thể chuyển động với vận tốc lớn hơn c/ζ2, hay, vận tốc tới hạn trong chuyển động của hạt vật chất tại vị trí có độ co dãn không thời gian ζ là c/ζ2. Nói cách khác, vận tốc tới hạn trong mọi HQC, chính là vận tốc truyền sóng không gian của trường khí âm dương trong HQC đó.
               Trong trường hợp ζ = 1, tức là trong HQC địa phương, thì vận tốc tới hạn là c/ζ2 = c. Do đó, tiên đề “Tốc độ ánh sáng trong chân không có độ lớn bằng c trong mọi hệ quy chiếu quán tính” của Albert Einstein, trong hệ thống HQC-ζ của chúng ta phải đổi thành: “Tốc độ ánh sáng trong không gian có độ lớn bằng c đối với mọi hệ quy chiếu địa phương”. Nhưng ta cũng lưu ý rằng, trong lý thuyết mà ta đang xây dựng, hoàn toàn không sử dụng tiên đề này, mà nó chỉ như một hệ quả được suy ra mà thôi.
          3. Khi nghiên cứu chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối cho thấy nhiều khác biệt với những kết quả của thuyết tương đối.


 63 
 vào lúc: 01:20:33 AM Ngày 22 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Pla Pla - Bài mới nhất gửi bởi Quang Dương
Xem đính kèm

 64 
 vào lúc: 11:00:44 PM Ngày 21 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Pla Pla - Bài mới nhất gửi bởi Pla Pla
Truyền công suất điện 1 pha 10000kW dưới hiệu điện thế 50kV đi xa. Mạch điện có hệ số công suất 0.8, muốn cho tỉ lệ năng lượng mất mát trên đường dây không quá 10% thì điện trở của dây phải có điều kiện ?
Mong thầy cô và các bạn chỉ em. Em xin cảm ơn!

 65 
 vào lúc: 09:54:20 PM Ngày 21 Tháng Năm, 2019 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     Nội dung đã pos:

          3. Mật độ năng lượng, mật độ vật chất trong không gian. Công thức năng lượng của một khối lượng vật chất
          4. Lực tác dụng lên hạt vật chất trong không gian
               a. Lực hấp dẫn
               b. Lực Archimed
               c. Tổng lực tác dụng vào hạt vật chất trong không gian
          5. Trường khí âm dương xung quanh một hạt vật chất
               a. Hệ số co giãn không thời gian xung quanh một hạt vật chất
               b. Lực tác dụng vào một khối lượng dạng chất điểm trong không gian quanh một hạt vật chất
                    Lực hấp dẫn hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
                    Lực Archimed hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
                    Tổng lực hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm


    Bình luận 2
          1. Chúng ta đã chỉ ra rằng, Tiên đề về vận tốc ánh sáng của Einstein chỉ là một hệ quả logic trong lý thuyết tuyệt đối và chỉ đúng trong HQC-ζ địa phương, xuất phát từ tính đàn hồi của vật chất. Chúng ta lại đưa ra một Tiên đề về Áp lực hấp dẫn lên một hạt vật chất phải tỷ lệ với hệ số co giãn không thời gian môi trường ζ và mật độ trường khí âm dương trong bản thân hạt vật chất ρm
                    pm = Kρmζ
            Tuy nhiên, Tiên đề này được phân tích tính logic của nó, do Khí dương tạo nên chứ không phải là một kết luận bất ngờ như “từ trên Trời rơi xuống”. Bản chất của nó là khẳng định sự phụ thuộc tuyến tính của áp lực p vào cường độ Khí dương.
          2. Việc đưa hệ số co giãn không thời gian ζ vào khi khảo sát vật lý, qua một số tính toán đơn giản, ta tính được mật độ vật chất phân bố trong không gian tương ứng với các hệ số ζ khác nhau, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đánh giá vai trò của hệ số này trong nghiên cứu vật lý. Nó chứng minh được sự liên quan hữu cơ giữa vật chất và không thời gian. Cứ nơi nào có không gian, nơi đó có mật độ khối lượng vật chất tương ứng với độ co dãn ζ nào đó. Nó cho công thức tính chính xác mật độ khối lượng vật chất trong không gian, kể cả cái thường được gọi là chân không.
                    ρ = ρmax.τ.e(1- τ)
          Công thức này là cơ sở cho những tính toán định lượng của các quá trình vật lý trong thuyết tuyệt đối:
               - Từ công thức tính mật độ vật chất tùy thuộc vào ζ, ta thấy sự tồn tại của giá trị mật độ vật chất lớn nhất ρmax, tương ứng với ζmax để xác định sự khác nhau giữa hạt vật chất có hệ số co giãn không thời gian  ζmax, mật độ ρmax với không gian vật chất có hệ số co dãn không thời gian ζ, mật độ ρ.
               
               - Công thức quan hệ mật độ trường khí âm dương với độ co giãn không thời gian ζ có 2 pha: một pha mật độ trường khí âm dương tăng từ vô cùng nhỏ tới cực đại, sau đến một pha giảm xuống tới vô cùng nhỏ cho ta khả năng giải thích sự hình thành và phát triển của Vũ trụ một cách định lượng sau khi đã mô tả một cách định tính ở chương trước như sau:
               - Qua đồ thị trên chúng ta thấy, khi Vũ trụ mới nảy sinh do một đột  biến lượng tử cực kỳ nhỏ bé từ Thái cực, thành một vi phân trường khí âm dương gồm “Khí” trong vi phân không gian cực nhỏ, thời gian trôi vô cùng chậm chạp. Sự trôi chậm chạp của thời gian chứng tỏ hệ số ζ cực lớn (dtζ = dt/ζ) hay τ = Q/ζ cực nhỏ. Theo công thức mật độ trường khí âm dương ở trên ta thấy, lúc này, mật độ vật chất ρ của Vũ trụ cũng rất nhỏ, và kết quả là Vũ trụ khởi nguyên cực kỳ nhỏ cả về kích thước cũng như khối lượng.
               - Theo qui luật tương quan âm/dương luôn tăng, nên theo thời gian, ζ giảm dần (hay τ tăng dần) làm cho mật độ vật chất ρ tăng lên tới ρmax theo phương trình:
                    ρ = ρmax.τ.e(1- τ)
                Đó là thời kỳ Tiên thiên Vũ trụ. Thời kỳ này quan hệ Tam tài đồng tương sinh, âm dương thống nhất nên mật độ ρ của trường khí âm dương trong Vũ trụ Tiên thiên rất đồng nhất và tốc độ tăng trưởng cao.
               - Khi ρ tăng tới giá trị ρ = ρmax, tương quan âm dương tiếp tục tăng, ζ tiếp tục giảm (τ tăng), thời gian tiếp tục trôi về phía trước, nhưng mật độ ρ bắt đầu giảm. Nhưng do tác động của khí dương bảo toàn trạng thái hiện tại nên sự giảm của mật độ ρ không được diễn ra một cách từ từ tại mọi vị trí mà như một sự tan vỡ khối Tiên thiên Vũ trụ, bắt đầu từ những “vết nứt” xuất hiện ngẫu nhiên khi ζ giảm, thành những mảnh to nhỏ khác nhau, có mật độ như trong khối Tiên thiên ρ = ρmax và không gian giữa chúng có mật độ thấp hơn. Những mảnh vỡ đó tiếp tục va chạm và tương tác hình thành Vũ trụ Hậu thiên ngày nay như ta thấy. Những mảnh nhỏ tạo thành những hạt vật chất vi mô, những mảnh lớn tạo thành những hố đen Vũ trụ. Đặc điểm chung của những mảnh vỡ đó là mật độ trường khí âm dương cực đại ρ = ρmax  và độ co giãn không thời gian ζ = ζmax = Q.
               - Tương quan âm/dương tiếp tục tăng làm cho ζ giảm (τ tăng) dẫn đến sự giảm dần của mật độ ρ, và tăng dần kích thước Vũ trụ, nói cách khác, Vũ trụ tiếp tục nở ra. Nhưng, trong quá trình đó, mật độ trường khí âm dương bên trong những “mảnh vỡ” không giảm đi do tác động bảo toàn của Khí dương, mà chỉ giảm ở vùng ngoại biên do tương quan âm/dương lớn hơn, làm cho những “mảnh vỡ” đó giảm dần kích thước cho tới khi biến mất.
               - Mật độ ρ tiếp tục giảm, đến một lúc nào đó sẽ vô cùng nhỏ bé trong toàn Vũ trụ, hay trường khí âm dương mờ nhạt dần rồi mất hẳn và đương nhiên, không thời gian với tư cách là một yếu tố không thể tách rời của trường khí âm dương cũng dần dần tiêu biến theo. Vũ trụ trở về trạng thái Thái cực và một quá trình mới lại bắt đầu với một đột biến lượng tử nào đó từ Thái cực, sinh ra một đốm trường khí âm dương mới dần phát triển thành một Vũ trụ mới. Do đột biến lượng tử là một hiện tượng ngẫu nhiên, nên Vũ trụ mới đó không nhất thiết giống như Vũ trụ chu kỳ trước, nhưng nguyên lý hình thành và phát triển của chúng như mô tả ở trên, vẫn như nhau.
          3. Qua công thức xác định áp suất p trong trường khí âm dương mới tìm được, chúng ta cũng thấy tính tịnh của khí dương thể hiện ra như một áp lực nội tại chống phân tán trong của trường khí âm dương. Áp lực đó cũng chính là mật độ năng lượng của trường khí âm dương trong không thời gian mà nó hiện hữu.
                p = pmaxe(1- τ)
          Ở đây, chúng ta đã đưa ra công thức phân bố khối lượng và năng lượng của trường khí âm dương trong không thời gian theo ζ hoặc τ. Ta đã chứng minh được, năng lượng tiềm tàng của một khối lượng vật chất không chỉ tỷ lệ thuận với khối lượng m mà còn tỷ lệ nghịch với độ co giãn không thời gian τ của nó:
               E = mc2
          Đối với hạt vật chất, τ = 1 nên công thức trở thành E = mc2 là công thức nổi tiếng của Einstein. Như vậy, công thức E = mc2 của Einstein chỉ là trường hợp riêng của chúng ta khi τ = 1.
               Nếu để ý rằng, công thức này của Einstein được đưa ra như một đề xuất, mà cho tới nay sự chứng minh công thức này một cách rốt ráo cũng còn nhiều vấn đề phải bàn, thì mới thấy ý nghĩa của việc ta không chỉ chứng minh được một công thức tổng quát hơn công thức của Einstein mà còn chỉ ra bản chất của năng lượng này là khả năng biến đổi của trường khí âm dương như đã phân tích ở chương I. Không thể có chuyện khối lượng và năng lượng có thể chuyển hóa cho nhau như một số nhà khoa học đề xuất, mà chỉ có thể nói, năng lượng có thể làm “gom” một khối lượng Khí đủ lớn vốn có trong không gian để ζ = ζmax = Q, tạo thành một hạt vật chất, chứ không phải bản thân năng lượng đó biến thành khối lượng hạt vật chất đó.
               Mặt khác, “Khí” tràn ngập khắp nơi trong Vũ trụ. Cái gọi là “chân không tuyệt đối” của chúng ta cũng là tràn đầy Khí với độ co giãn không thời gian ζ = 1 (do ta lấy vị trí của ta làm cơ sở HQC-ζ tuyệt đối). Do đó, mật độ vật chất của nó là ρ = ρ0 = Qρmax/eQ-1 , áp suất và mật độ năng lượng là p = p0 =c2ρmax/eQ-1 = pmax/eQ-1. Do Q khá lớn nên ρ0, p0 rất nhỏ làm chúng ta không cảm giác được sự hiện diện của nó. Tuy ta không cảm nhận được nhưng “nó” vẫn hiện diện có và còn thể hiện những hiệu ứng cho thấy sự tồn tại của mình.
               4. Mục này tính toán và giải thích rõ ràng nguồn gốc và công thức tính lực hấp dẫn là xu thế do khí dương với “tính tịnh” sinh ra, thể hiện qua sự phân bố không đều của độ co giãn không thời gian, đồng thời còn bổ sung một lực hoàn toàn mới đối với khoa học hiện đại, đó là lực Archimed trong không gian. Lực này, trong điều kiện bình thường nói chung rất nhỏ nên bị bỏ qua. Nhưng tại những vị trí có độ co giãn không thời gian lớn, nó rất đáng kể và khi τ < τ* = 3.5128, nó còn lớn hơn lực hấp dẫn. Sự hiện diện của lực Archimedes làm ảnh hưởng lớn tới tổng lực tác dụng lên một hạt vật chất trong không gian tạo nên tình thế các hạt vật chất hút nhau ở khoảng cách lớn khi lực hấp dẫn lớn hơn lực Archimed, nhưng đẩy nhau rất mạnh ở khoảnh cách nhỏ khi lực Archimedes lớn hơn lực hấp dẫn. Công thức và đồ thị tổng lực tác dụng vào hạt vật chất trong không gian thể hiện rõ điều đó. Chính lực đẩy Archimed này là nguyên nhân làm cho các hạt vật chất không bị rơi vào nhau, đồng thời là lực giúp cho Vũ trụ chiến thắng lực hấp dẫn và nở ra mãi mãi.
                Sau hhi đưa ra khái niệm độ co giãn không thời gian, chúng ta đã tính toán và mô tả khá rõ độ co dãn không-thời gian xung quanh một hạt vật chất. Khi ta đưa tay tới một vật thể nào đó, ở khoảng cách còn xa, lực đẩy Archimed hầu như không xuất hiện, có chăng chỉ là lực hút rất nhỏ nào đó, thậm chí ta không cảm giác thấy. Khi ta chạm tay vào vật thể, điều đó có nghĩa là, khoảng cách giữa phần tử hạt vật chất  ngoài cùng của vật thể và tay ta giảm xuống còn rất nhỏ, lực Archimedes trở nên lớn hơn lực hấp dẫn, đẩy vào tay ta. Nếu không có lực này, tay ta “xuyên qua” vật thể mà không bị cản trở nào. Lực đẩy vào tay ta tác động lên các giác quan, làm ta nhận biết tiếp xúc về hình dáng, kích thước của vật. Như vậy, lực Archimed khi lớn hơn lực hút (hấp dẫn) chính là cơ sở cho chúng ta cảm giác và nhận thức về hình dáng, kích thước vật thể trong tiếp xúc. Một vật thể trở nên hữu hình hay vô hình trong tiếp xúc chính là do lực Archimed quyết định. Đó là lý do mà “linh hồn”- một trường khí âm dương thứ cấp có ζ nhỏ - có thể dễ dàng xuyên qua một bức tường, do lực Archimed quá nhỏ.




 66 
 vào lúc: 03:14:24 AM Ngày 21 Tháng Năm, 2019 
Tác giả tmtd - Bài mới nhất gửi bởi quangtu123
Bài này có thể dùng tích phân.

Phương pháp OG? Có phải là dùng định lý điện thông không? Nếu đúng thì phải tìm một mặt đối xứng để xét. Nhưng đĩa tròn thì xem ra khó có mặt đối xứng nào cả...

 67 
 vào lúc: 03:10:54 AM Ngày 21 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Linhnguyen.sp - Bài mới nhất gửi bởi quangtu123
Câu 1: để tìm được chiều cao lơ lửng, bạn giải phương trình sau (biến h):

V.(khối lượng riêng bên trong)+m=V.(khối lượng riêng bên ngoài)

(khối lượng riêng bên ngoài phụ thuộc vào h), suy ra h.

Câu 2: tương tự, bạn giải phương trình biến V':

V'.(khối lượng riêng bên trong)+m=V'.(khối lượng riêng bên ngoài tại h=0)

Chúc thành công. 

 68 
 vào lúc: 12:52:14 AM Ngày 20 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Xuân Yumi
Điều chỉnh đáp án câu 37. Đáp án D. ( Cre: Thầy Đậu Quang Dương)

Cám ơn bạn Nam Vũ đã phát hiện và phản hồi trên group TVVL.
Link group: https://www.facebook.com/groups/4rumthuvienvatly/

 69 
 vào lúc: 10:10:52 PM Ngày 19 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Điền Quang
THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN VẬT LÝ LẦN 7 - 2019
Chúc mừng 3 bạn đứng đầu sẽ nhận được món quà của diễn đàn TVVL (TOP 3 chúng tôi căn cứ vào điểm số và thời gian nộp bài )
Câu trả lời cá nhân (Đúng/sai) sẽ được gửi vào email cá nhân ngay sau khi công bố kết quả chung.
Cám ơn tất cả các em đã tham dự !
Thi thử THPTQG Lần 8 - 2019  (Lần cuối) sẽ tổ chức vào 21g00, Chủ nhật, ngày 9/6/2019, chào đón các em cùng tới tham dự.
Có vài lưu ý nho nhỏ cho các em với những kỳ thi lần sau :
Lưu ý 1: Nộp bài đúng giờ 21h55, sau thời gian này chúng tôi sẽ k nhận bài làm và trao quà.
Lưu ý 2: Mối lần thi, diễn đàn đều ghim Link thi thử trong khung màu vàng rất nổi bật ở phía trên.
Lưu ý 3: Nếu trong quá trình làm bài, các em vẫn có thể chỉnh sửa câu trả lời nếu chưa tới thời gian nộp bài. Link chỉnh sửa xuất hiện ở thông báo ngay sau khi em nhấn nút gửi
Chị Xuân đã gửi kết quả cá nhân, câu đúng sai vào email, các em check email để biết mình sai ở đâu nhé

 70 
 vào lúc: 10:01:50 PM Ngày 19 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Điền Quang
Mọi người tải link đề thi, đáp án chi tiết tại đây: http://thuvienvatly.com/download/50190

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »

Tắt bộ gõ tiếng Việt [F12] Bỏ dấu tự động [F9] TELEX VNI VIQR VIQR* kiểm tra chính tả Đặt dấu âm cuối
Powered by SMF 1.1.11 | SMF © 2006, Simple Machines LLC © 2006 - 2012 Thư Viện Vật Lý.