Giai Nobel 2012
06:32:38 AM Ngày 14 Tháng Mười, 2019 *

Chào mừng bạn đến với Diễn Đàn Vật Lý.

Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Hay bạn đã đăng ký nhưng cần gửi lại email kích hoạt tài khoản?
Vui lòng nhập tên Đăng nhập với password, và thời gian tự động thoát





Lưu ý: Đây là diễn đàn của Thư Viện Vật Lý. Tài khoản ở Diễn Đàn Vật Lý khác với tài khoản ở trang chủ Thuvienvatly.com. Nếu chưa có tài khoản ở diễn đàn, bạn vui lòng tạo một tài khoản (chỉ mất khoảng 1 phút!!). Cảm ơn các bạn.
Phòng chát chít
Bạn cần đăng nhập để tham gia thảo luận
Vật lý 360 Độ
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 54)
01/10/2019
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 53)
01/10/2019
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 84)
28/09/2019
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 83)
25/09/2019
Tìm hiểu nhanh vật lí hạt (Phần 10)
25/09/2019
Tìm hiểu nhanh vật lí hạt (Phần 9)
25/09/2019

follow TVVL Twitter Facebook Youtube Scirbd Rss Rss
  Trang chủ Diễn đàn Tìm kiếm Đăng nhập Đăng ký  


Quy định cần thiết


Chào mừng các bạn đến với diễn đàn Thư Viện Vật Lý
☞ THI THỬ THPT QG LẦN 8 MÔN VẬT LÝ 2019 - 21h00 NGÀY 9-6-2019 ☜

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 41 
 vào lúc: 11:28:51 PM Ngày 21 Tháng Bảy, 2019 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     Các bạn thân mến!
     Mời các bạn tham khảo bài viết:"Các vấn đề vật lý hạt cơ bản của thế kỷ XXI" tại http://dongtac.hncity.org/?Vu-tru-luong-tu-Cac-van-de-vat-ly-hat-co-ban-cua-the như sau:

    Các vấn đề vật lý hạt cơ bản của thế kỷ XXI
                                           GS NGUYỄN NGỌC GIAO
                                           Thứ Hai 15, Tháng Mười Hai 2008, do Khoa hoc

     Tháng 10/2003 Raymond L.Orbach, Giám đốc Vụ Khoa học của Bộ Năng lượng Mỹ và Michael Turner, Trợ lý Giám đốc Ban Khoa học Toán-Lý của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ đã đồng ký tên một công văn gửi GS. Frederik Gilman, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Vật lý Năng lượng cao (HEPAP) đề nghị thành lập một Ủy ban để xem xét các vấn đề chính yếu hiện nay trong vật lý năng lựợng cao, vật lý thiên văn hạt và vũ trụ học và đề xuất phương hướng nghiên cứu sắp tới cũng như triển vọng. HEPAP đã thành lập một Ủy ban gồm 17 nhà khoa học để thực hiện yêu cầu trên. Và sau đây là tóm tắt báo cáo do Ủy ban đó soạn thảo.
    I.- MỞ ĐẦU
         Bản chất vũ trụ là gì và nó được cấu tạo từ cái gì?
         Vật chất, năng lựợng, không gian, thời gian là gì?
         Chúng ta xuất hiện ở đây như thế nào và đang đi đâu?
     Việc cố gắng trả lời các câu hỏi cơ bản về vũ trụ đã đạt đến bước ngoặt. Vào những năm đầu thế kỷ XXI, các nhà vật lý đã nắm vững được tính chất các hạt và các lực đặc trưng cho vật chất thông thường xung quanh chúng ta. Mặt khác, các quan sát vật lý thiên văn và vũ trụ bằng các trạm không gian lại cho thấy bức tranh đó của vũ trụ là không đầy đủ, vì 95% thành phần vũ trụ lại không phải cấu tạo từ vật chất thông thường, mà từ một cái gì khác còn bí ẩn : đó là vật chất tối và năng lựợng tối. Như vậy chúng ta đã nhận thức được là thực tế ta không biết gì về đại bộ phận những gì tạo nên vũ trụ.
     Để hiểu được vũ trụ “mới” còn chưa biết đó, ta cần những phát hiện mới của vật lý hạt. Các quan sát thiên văn giúp ta khảo sát các tham số của vũ trụ, các máy gia tốc giúp ta xây dựng một lời giải lượng tử cho các tham số đó. Năng lựợng đạt được ở các máy gia tốc ngày nay đã đến gần các điều kiện ở những giây phút đầu tiên sau Vụ Nổ Lớn, là công cụ sẽ giúp ta phát hiện ra vật chất tối, năng lựợng tối là gì, thực hiện cuộc cách mạng về nhận thức vật lý hạt cơ bản và vũ trụ.
     Chưa lúc nào như lúc này, hai cách tiếp cận từ quan sát vũ trụ và từ thí nghiệm với máy gia tốc lại song hành hỗ trợ nhau mật thiết đến như vậy.
    II.- BẢN CHẤT CƠ BẢN CỦA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LỰỢNG, KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN.
     Các thí nghiệm đang tiến hành cũng như dự kiến tiến hành của vật lý hạt cơ bản ở các phòng thí nghiệm khắp nơi trên thế giới sẽ cho ta khả năng nêu lên chín câu hỏi về các định luật vật lý cơ sở đang chi phối vũ trụ.
     Các câu hỏi này vừa rất quen thuộc nhưng đồng thời có tính cách mạng sâu sắc, xác định hướng đi của vật lý hạt cơ bản trong thế kỷ XXI.
     Chín câu hỏi này ta có thể gọn lại theo 3 nội dung lớn như sau :
          GIẤC MƠ CỦA EINSTEIN VỀ CÁC LỰC HỢP NHẤT
     Giấc mơ này có thể nói đã được thực hiện khá tốt trong phạm vi vi mô, lượng tử (Mô hình tiêu chuẩn – Standard Model SM). Tuy nhiên các ý tưởng lượng tử đó lại không áp dụng được cho phạm vi vũ trụ. Có thể còn thiếu một vài thành tố nào đó; trường hấp dẫn, vật chất tối, năng lựợng tối phải có một cách diễn giải lượng tử. Phải có một lý thuyết gì đó bao quát được cả SM và thuyết tương đối tổng quát, đồng thời giải quyết được bí ẩn của năng lựợng tối.
     Câu hỏi 1.- Có hay không những nguyên lý của tự nhiên mà ta chưa phát hiện ra: những đối xứng mới, những định luật vật lý mới ?
     Công cuộc nghiên cứu của chúng ta từ trước tới nay về các định luật cơ bản của tự nhiên đã giúp ta nhận thức được là các định luật vật lý, và các hạt vật chất bị chi phối, tồn tại là do các đối xứng của tự nhiên làm nền tảng, một số trong các đối xứng này đã mất đi ngay từ Vụ Nổ Lớn. Một trong những đối xứng bị mất đó có thể là siêu đối xứng. Siêu đối xứng dự kiến là đi cặp với mỗi hạt thông thường luôn luôn có một hạt đồng hành siêu đối xứng. Lý thuyết siêu đối xứng – phần cốt lõi của lý thuyết dây, hé mở khả năng một trong những hạt đồng hành này, hạt neutralino, là ứng viên cho vật chất tối, cũng như mối liên quan có thể giữa siêu đối xứng và năng lựợng tối.
     Việc phát hiện ra siêu đối xứng rõ ràng là một thách thức thực nghiệm đối với vật lý hạt cơ bản, chưa nói đến việc khảo sát chi tiết cấu trúc và tính chất các hạt đồng hành siêu đối xứng.
    Câu hỏi 2.- Ta giải quyết bí ẩn của năng lượng tối như thế nào ?
     Các đo đạc gần đây bằng kính thiên văn cũng như các trạm không gian cho thấy là có một lực bí ẩn - năng lựợng tối – lấp đầy vacuum của không gian trống rỗng, thúc đẩy tăng tốc sự dãn nở của vũ trụ. Ta không biết năng lựợng tối là gì, và tồn tại để làm gì. Mặt khác lý thuyết hạt cơ bản cho ta biết là ở mức độ vi mô, ngay cả một vacuum hoàn hảo cũng chứa đầy các cặp hạt lượng tử, có thể là nguồn gốc tự nhiên của năng lựợng tối. Tuy nhiên, tính toán sơ bộ năng lựợng tối sinh bởi vacuum đó lại cho một giá trị 10120 lần lớn hơn giá trị quan sát. Như vậy phải có một quá trình vật lý gì đó, chưa biết, để khử hầu hết năng lượng vacuum đó, chỉ chừa lại đủ để gia tốc sự dãn nở vũ trụ như đã thấy. Cần thiết một lý thuyết mới của vật lý hạt cơ bản để giải thích quá trình này.
     Các số liệu thực nghiệm lại dẫn đến một thành phần bí ẩn khác của không gian trống rỗng, đó là trường Higgs, trường này “cung cấp” khối lượng cho các hạt. Nếu không có trường Higgs thì các electron sẽ chuyển động với vận tốc ánh sáng, và các nguyên tử sẽ phân rã tức thời. Năng lựợng tối và trường Higgs có liên quan gì với nhau không? Việc phát hiện ra siêu đối xứng có thể sẽ cho thấy mối liên quan đó, có thể sẽ giải thích được giá trị nhỏ, nhưng hữu hạn của năng lượng tối.
     Câu hỏi 3.- Có hay không những chiều dư (extra) của không gian ?
     Ý tưởng có tính cách mạng của lý thuyết dây là việc thực hiện rõ ràng giấc mơ của Einstein về một phương cách giải thích cốt lõi nhất của tất cả mọi vật, từ lượng tử nhỏ nhất của vật lý hạt đến toàn bộ vũ trụ. Lý thuyết dây hợp nhất toàn bộ vật lý với việc diễn tả mọi lực và mọi hạt như là các dao động khác nhau của chỉ một đối tượng duy nhất gọi là siêu dây (dây siêu đối xứng).
     Các siêu dây có tồn tại không? Bản thân dây có thể là quá nhỏ để ta quan sát trực tiếp được, nhưng lý thuyết dây lại có một số tiên đoán có thể kiểm nghiệm được. Lý thuyết này đòi hỏi siêu đối xứng và tiên đoán sự tồn tại của bảy (7) chiều không gian cho đến nay chưa phát hiện ra, những chiều dư này là nguyên nhân cho phần lớn độ phức tạp của bức tranh vật lý hạt. Kiểm nghiệm tính đúng đắn của lý thuyết dây chính là phải tìm cho ra các chiều dư đó của không gian. Có bao nhiêu chiều dư tất cả? Dáng vẻ và kích thước chúng ra sao? Tại sao chúng lại ẩn? Có hạt mới nào gắn liền với các chiều dư đó không?
     Câu hỏi 4.- Tất cả các lực rồi có trở thành một không ?
     Ở mức cơ bản nhất các hạt và lực có thể hội tụ lại nhau, hoặc thông qua các nguyên tắc ẩn như thống nhất lớn, hoặc thông qua vật lý mới như siêu dây.
          THẾ GIỚI HẠT
     Các nhà vật lý đã tìm được nhiều loại hạt cơ bản, và xác định được khá chi tiết các tính chất của từng hạt. Vai trò của chúng là gì? Làm sao biết được khi nào ta tìm được hết tất cả các loại hạt?
    Câu hỏi 5.- Vì sao có nhiều loại hạt như vậy?
     Chúng ta đã phát hiện được 3 họ quark và lepton - các phần tử cơ bản nhất, ba họ này chỉ khác nhau về khối lượng, từ dưới một phần triệu khối lượng electron cho đến khối lượng của một nguyên tử vàng. Tương tự như cơ lượng tử giúp ta giải thích cách sắp xếp bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học, ngày nay chúng ta đang tìm kiếm các lý thuyết mới giải thích tính chất các hạt cơ bản. Tại sao tồn tại ba họ hạt, và tại sao khối lượng chúng lại khác nhau đến như vậy? Tại sao tính chất các quark và lepton lại hoàn toàn khác nhau?
    Câu hỏi 6.- Vật chất tối là gì ? Làm thế nào có chúng trong phòng thí nghiệm?
     Phần lớn vật chất trong vũ trụ là tối. Nếu không có vật chất tối thì các ngôi sao, các thiên hà đã không hình thành được, và đã không có sự sống ngày nay. Vật chất tối gắn kết vũ trụ lại với nhau. Nó là gì?
     Tuy rằng sự tồn tại của vật chất tối đã được đề xuất từ những năm 1930, nhưng chỉ ở 10 -15 năm cuối này, các nhà khoa học mới đạt được bước tiến đáng kể trong việc hiểu biết các tính chất của nó, phần lớn là xác định những gì không phải là nó. Các quan sát gần đây về ảnh hưởng của vật chất tối lên cấu trúc vũ trụ cho thấy là nó không giống bất kỳ dạng vật chất nào mà ta đã biết hoặc đã đo được trong phòng thí nghiệm. Đồng thời cũng xuất hiện nhiều lý thuyết để giải thích vật chất tối là gì, chẳng hạn lý thuyết siêu đối xứng tiên đoán những họ hạt mới, tương tác rất yếu với vật chất thông thường, mà hạt nhẹ nhất trong số đó có thể chính là hạt vật chất tối.
    Câu hỏi 7.- Các hạt neutrino nói với ta điều gì ?
     Neutrino là hạt bí ẩn nhất trong số các hạt mà ta biết được trong vũ trụ. Nó luôn cho ta nhiều bất ngờ. Nó tương tác với các hạt khác yếu tới mức cả tỷ neutrino mỗi giây xuyên qua cơ thể ta mà không để lại dấu vết gì. Mặt Trời cũng bức xạ vô số neutrino, sinh ra trong các phản ứng nhiệt hạch trong lòng của mình. Các neutrino này được sinh ra chỉ một loại, nhưng trong quá trình di chuyển đến Trái Đất, chúng lại biến qua hai loại kia một cách bí ẩn. Các neutrino có khối lượng, nhưng hạt neutrino nặng nhất cũng chỉ bằng một phần triệu khối lượng của hạt tích điện nhẹ nhất.
     Việc neutrino có khối lượng nhỏ như vậy có thể là do chúng nhận được khối lượng từ một quy luật vật lý còn chưa biết, có thể liên quan đến lực thống nhất. Việc khảo sát chi tiết các tính chất hạt neutrino - khối lượng, cách thức chúng biến từ loại này qua loại kia, và chúng có phải là phản hạt của chính mình không, v.v… - sẽ cho ta biết neutrino có phải là hạt vật chất thông thường không, hay lại là cái gì khác.
          SỰ XUẤT HIỆN VŨ TRỤ
     Cái gì khởi động Vụ Nổ Lớn? Làm thế nào không gian, thời gian, vật chất và năng lựợng có được hình dạng như ta thấy hiện giờ? Ta có thể nào đi ngược lại lịch sử vũ trụ không?
     Những quá trình ở giai đoạn đầu đã xảy ra ở nhiệt độ và mật độ vật chất vô cùng lớn, đã quyết định những tính chất cơ bản của vật lý hạt. Những quá trình đó đã được điều chỉnh tinh vi sao cho có thể xuất hiện được các thiên hà, các ngôi sao và hành tinh. Có hay không những định luật vật lý mà ta chưa biết, chúng quyết định sự tồn tại của con người?
    Câu hỏi 8.- Vũ trụ đã hình thành như thế nào?
     Theo lý thuyết hiện nay thì vũ trụ đã bắt đầu bằng một vụ nổ kỳ lạ, tiếp theo là sự giãn nở bột phát cực kỳ nhanh (lạm phát). Để hiểu được hiện tượng giãn nở lạm phát, cần phải có những đột phá trong hiểu biết của chúng ta về vật lý cơ sở, về hấp dẫn lượng tử, và về lý thuyết hợp nhất các tương tác. Tuy rằng các điều kiện giãn nở lạm phát tương ứng năng lựợng quá cao không thể tạo lại trên trái đất, ta vẫn có thể quan sát thấy dấu ấn của nó qua nên bức xạ vi ba vũ trụ tàn dư hiện nay.
     Ngay sau vụ giãn nở lạm phát, các điều kiện vật lý là cực kỳ đặc biệt nên có thể tổ hợp các hạt cơ bản lại thành một pha mới của vật chất. Trong quá trình vũ trụ dãn nở và nguội đi, đó chính là hiện tượng chuyển pha, giống như hơi nước ngưng tụ thành nước, và các hiện tượng này còn để lại tàn dư quan sát được hiện nay.
     Hiện tượng chuyển pha vũ trụ có thể tái lập lại trong các thí nghiệm ở máy gia tốc năng lượng cao.
     Câu hỏi 9.- Phản vật chất đi đâu hết ?
     Vụ Nổ Lớn gần như chắc chắn tạo ra các hạt và phản hạt với số lượng bằng nhau. Tuy vậy, mọi quan sát trong phạm vi vũ trụ quan sát được lại cho thấy là ta đang sống trong một vũ trụ của vật chất, chứ không phải của phản vật chất.
     Cái gì đã xảy ra với phản vật chất ? Có thể ngay từ đầu đã có một sự mất cân bằng nhỏ giữa vật chất và phản vật chất, hoặc phản vật chất đã bị hủy hết thành photon và neutrino. Ngày nay, các nhà vật lý quan sát thấy trong phòng thí nghiệm một sự bất đối xứng rất nhỏ giữa vật chất và phản vật chất, tuy nhiên việc hiểu các bất đối xứng đó là không đầy đủ, không đủ để giải thích sự thống trị của vật chất trong vũ trụ.
Phải chăng có một hiện tượng gì đó còn bí ẩn, gây ra diễn tiến khác nhau giữa vật chất và phản vật chất? Nguồn gốc hiện tượng này phải chăng liên quan với boson Higgs, hoặc với siêu đối xứng, hoặc với các chiều dư của không gian ?
     Chín câu hỏi nêu trên xác định phương hướng tương lai của vật lý hạt cơ bản. Trả lời những câu hỏi đó là mục tiêu của một chương trình nghiên cứu toàn cầu, định hướng các thí nghiệm đang và sẽ tiến hành cũng như thiết kế các thiết bị nghiên cứu vô tiền khoáng hậu.


    Như vậy, Thuyết Tuyệt đối đã cho câu trả lời lên phần lớn những vấn đề đó một cách trực tiếp (những mục có gạch dưới ở trên). Điều đó chứng tỏ tính đúng đắn và hiệu quả của nó.
     Ngoài ra, bạn có thể tham khảo hai địa chỉ sau và thấy rằng, hiện nay, chỉ có Thuyết Tuyệt đối mới có thể lý giải được những mâu thuẫn trên:
          http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/vu-tru-dang-gian-no-co-gia-toc-4513
        http://360.thuvienvatly.com/bai-viet/thien-van-vu-tru/4248-sai-lech-9-phan-tram

     Tôi có thể khẳng định, hiện nay, chỉ có Thuyết Tuyệt đối mới có khả năng giải quyết toàn bộ những vấn nạn cơ bản nhất của vật lý lý thuyết một cách logic, nhất quán và có hệ thống (tôi không nói về những vấn nạn của các môn vật lý chuyên nghành hẹp).
     Mời các bạn cho ý kiến!



 42 
 vào lúc: 09:36:58 PM Ngày 02 Tháng Bảy, 2019 
Tác giả avaiva - Bài mới nhất gửi bởi avaiva
Chia sẻ miễn phí bộ tài liệu vật lí file word tác giả Hoàng Sư Điểu

https://mpc247.com/vat-li-pho-thong/10688/hoang-su-dieu-tai-lieu-vat-li-file-word-free-download.html

 43 
 vào lúc: 09:34:24 PM Ngày 27 Tháng Sáu, 2019 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     Các bạn thân mến!
     Theo khoa học hiện đại, cấu tạo hố đen vũ trụ khối lượng M gồm một điểm kỳ dị ở trung tâm với mật độ vật chất cực lớn, gần như vô hạn. Xung quanh điểm kỳ dị là một không gian có bán kính R = 2GM/c2 với lực hấp dẫn cực lớn có thể cầm giữ mọi hạt vật chất kể cả hạt ánh sáng không cho thoát ra. Vì thế, vùng không gian này không thể nhìn thấy được, nó sẽ đen kịt, gần như tuyệt đối (chỉ có thể một lượng rất nhỏ bức xạ Hawking là có thể thoát ra). Bán kính R = 2GM/c2 còn gọi là chân trời sự kiện. Bên ngoài chân trời sự kiện là hững hạt bụi vật chất chuyển động với vận tốc cao, tạo ra lực ly tâm chống lại lực ấp dẫn. Như vậy, càng gần chân trời sự kiện, vật tốc những hạt vật chất này càng cao và giảm dần khi cách xa chân trời sự kiên. Trong quá trình chuyển động, những hạt vật chất đó va chạm, ma sát với nhau và phát ra bức xạ. Vận tốc chuyển động càng cao thì bức xạ phát ra càng lớn.
     Mô hình hố đen vũ trụ được các nhà khoa học mô tả bằng hình ảnh như sau:
         
         
         
     Rõ ràng, theo hình ảnh trên, ta thấy, vùng sáng nhất chính là tại vị trí sát ngay chân trời sự kiện, hay tỷ số bán kính vùng sáng nhất trên bán kính vùng tối nhất là 1:
          Rsáng nhất /Rtối nhất  = 1
     Tuy nhiên, theo Thuyết tuyệt đối, như đã pos trong mục Phần II.7.b. Lỗ đen Vũ trụ, ta thấy, phần đen nhất có δ = 2.52 => Rtối nhất  = 2.52GM/c2. Phần sáng nhất là phần có vận tốc Vũ trụ cấp I lớn nhất có δ = 5.71 => Rsáng nhất = 5.71GM/c2.
     Như vậy, tỷ số bán kính vùng sáng nhất trên bán kính vùng tối nhất là:
          Rsáng nhất /Rtối nhất  = 2.27
     Như vậy, có sự sai lệch rất lớn giữa Thuyết tuyệt đối và khoa học hiện đại về tỷ số này.
     Gần đây, các nhà khoa học trên thế giới đã chụp ảnh đươc một lỗ đen vụ trụ và công bố trên thông tin đại chúng như sau:
         
     Rõ ràng, mô hình lỗ đen vũ trụ của các nhà kho học hiện đại không phù hợp với thực tiễn khách quan là hình ảnh này. Trong khi đó, mô hình hố đen vũ trụ của thuyết tuyệt đối hầu như trùng hợp hoàn toàn, được mô tả trong hình ảnh sau:
         
     Như vậy, đây là một minh chứng cho sự đúng đắn của Thuyết tuyệt đối so với khoa học hiện đại

 44 
 vào lúc: 09:44:44 AM Ngày 21 Tháng Sáu, 2019 
Tác giả le tan hau - Bài mới nhất gửi bởi photon01
Điện năng được truyền đi từ một máy phát đến một khu dân cư bằng đường dây tải một pha, với hiệu
suất truyền tải 90%. Do nhu cầu tiêu thụ điện của khu dân cư tăng 11% nhưng chưa có điều kiện nâng công suất
máy phát, người ta dùng máy biến áp để tăng điện áp trước khi truyền đi. Coi hệ số công suất của hệ thống
không thay đổi. Tỉ số vòng dây giữa cuộn thứ cấp và cuộn sơ cấp là
Trước tiên khi chưa dùng máy biến áp thì hiệu suất là 90%:[tex]H_{1}=\frac{Pi1}{P}=1-\frac{rP}{U^{2}_{1}}[/tex]
Khi đó ta có: Pi1 = 0,9P.
Do nhu cầu sử dụng điện tăng 11% tức là:[tex]\frac{Pi2-Pi1}{Pi1}=0,11\rightarrow P_{i2}=1,11.P_{i1}=1,11.0,9.P=0,999.P[/tex]
Vậy hiệu suất sau khi dùng máy biến áp sẽ phải là:[tex]H_{2}=\frac{P_{i2}}{P}=0,999[/tex] và [tex]H_{2}=1-\frac{rP}{U_{2}^{2}}[/tex]
Lập tỉ số: [tex]\frac{N_{2}}{N_{1}}=\frac{U_{2}}{U_{1}}=\sqrt{\frac{1-H_{1}}{1-H_{2}}}[/tex]
[tex]\frac{N_{2}}{N_{1}}=\frac{U_{2}}{U_{1}}=\sqrt{\frac{1-H_{1}}{1-H_{2}}}=...[/tex]



 45 
 vào lúc: 09:26:05 AM Ngày 21 Tháng Sáu, 2019 
Tác giả Pla Pla - Bài mới nhất gửi bởi photon01
Một dây đàn hồi căng ngang với đầu A cố định đang có sóng dừng. M và N là hai phân tử dao động điều hoà có VTCB cách đầu A những đoạn lần lượt 16cm và 27cm. Biết sóng dừng trên dây có bước sóng 24cm. Tỉ số giữa biên độ dao động của M và biên độ dao động của N là
Xin thầy cô và các bạn chỉ em. Em cảm ơn!
Do đầu A cố định được chọn làm mốc nên ta có [tex]A_{M}=A_{b}.sin\left(\frac{2\pi AM}{\lambda}\right); A_{N}=A_{b}.sin\left(\frac{2\pi AN}{\lambda } \right)[/tex]
Sau đó thay số vào và lập tỉ số. Ab chính là biên độ tại bụng sóng.

 46 
 vào lúc: 10:20:35 PM Ngày 15 Tháng Sáu, 2019 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     Các bạn hân mến!
     Như vậy, tôi đã pos xong những phần cơ bản nhất của Thuyết tuyệt đối, một lý thuyết hoàn toàn mới cho đến nay. Chắc các bạn cũng nhận thức rõ ý nghĩa của lý thuyết này với khoa học hiện đại. Cũng như mọi lý thuyết còn mới mẻ khác từ xưa tới nay, việc đưa chúng vào thực tế khoa học không phải là vấn đề đơn giản và mau chóng. Tôi nghĩ rằng, diễn đàn của chúng ta là diễn đàn chuyên về vật lý, tất không thiếu những con người tâm huyết và có trình độ cao về vật lý lý thuyết. Vì thế, tôi xin chờ đợi những đóng góp, phản biện, bình luận, ... của các bạn với tinh thần khoa học và cầu thị.
     Thân ái!

 47 
 vào lúc: 08:45:57 PM Ngày 13 Tháng Sáu, 2019 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     KẾT LUẬN
     Như vậy, trong chương II, chúng ta đã sơ bộ nghiên cứu Vũ trụ Vật lý, xây dựng nên một học thuyết Vật lý mới có tên là “Thuyết tuyệt đối”, thay đổi rất nhiều những nguyên lý cơ sở của Vật lý hiện đại, nhưng lại giải quyết được hàng loạt vấn đề Vật lý còn tồn tại.
     Chúng ta đã biết và mô tả được khá chi tiết Vũ trụ được sinh ra như thế nào từ một đột biến lượng tử cực kỳ nhỏ bé trong Thái cực, đã vận động trong xu thế tiến tới trạng thái quân bình âm dương và tương quan âm/dương luôn tăng, phát triển qua thời Tiên thiên và nay đang trong thời kỳ Hậu thiên, trong tương lai sẽ mờ nhạt dần rồi mất hẳn, trở về trạng thái Thái cực bất khả tư nghị.
     Chúng ta cũng đã biết được, bản chất của Vũ trụ chỉ là một trường khí âm dương bao gồm Khí, không thời gian là 2 mặt không thể tách rời. Khí bao gồm Khí dương “tịnh” nên Vũ trụ là một môi trường đàn hồi, co cụm và có tính tất định. Khí bao gồm Khí âm “động” nên Vũ trụ là một môi trường giao động, phân tán và có tính bất định. Tương quan âm dương tạo nên độ co giãn không thời gian ζ quyết định thuộc tính của trường khí âm dương. Do nguyên lý tương quan âm dương luôn tăng nên thời gian luôn trôi về phía trước, độ co giãn không thời gian ζ luôn suy giảm, Vũ trụ luôn nở ra. Năng lượng bảo đảm cho quá trình nở ra đó chính là thế năng của vật chất trong Vũ trụ mà người ta lầm tưởng là do một thứ “năng lượng tối” nào đó. Cái gọi là “vật chất tối” chỉ là khối lượng khí bên ngoài hạt vật chất  với độ co giãn không thời gian ζ khác nhau mà thôi.
     Đó là đáp án cho những câu hỏi làm đau đầu biết bao thế hệ từ cổ chí kim: bản chất Vũ trụ là gì? Không gian, thời gian, vật chất là gì? Nó được cấu tạo như thế nào? Nó từ đâu đến, phát triển thế nào và sẽ đi về đâu?...
     Trong khoa học hiện đại, người ta lúng túng về sự không tương thích giữa vật lý cổ điển và cơ học lượng tử. Trong lý thuyết của chúng ta, thế giới vi mô và vĩ mô hoàn toàn không phân biệt, đều phải tuân thủ những định luật tương tác âm dương. Như đã phân tích, tính bất định do Khí âm sinh ra chiếm tỷ trọng cao hơn trong thế giới vi mô so với thế giới vĩ mô, thể hiện ở tần số f do động lượng sinh ra không thể bỏ qua. Nhưng trong thế giới vĩ mô thì tỷ trọng đó không đáng kể, có thể bỏ qua. Tuy bỏ qua nhưng thực chất những hiệu ứng đó vẫn tồn tại. Do đó, sự phân biệt thế giới vĩ mô và vi mô chỉ đơn thuần do độ chính xác khi tính toán, hoàn toàn không phải vì vấn đề bản chất. Nói cách khác, về bản chất, thế giới vi mô và vĩ mô trong lý thuyết của chúng ta  là thống nhất, đồng thời những qui luật, phương trình chúng ta xây dựng thể hiện rõ sự thống nhất đó. Như vậy, có thể nói, Thuyết tuyệt đối thống nhất cả thế giới vi mô lẫn vĩ mô.
     Chúng ta đã lý giải, làm rõ được bản chất hàng loạt những hiện tượng vật lý một cách hệ thống, chỉnh sửa các công thức vật lý quan trọng và nổi tiếng như công thức E = mc2, công thức Broglie, phép biến đổi Lorentz, con lắc Foucaul, đường chân trời sự kiện, định luật bảo toàn năng lượng, nguyên lý thứ 2 nhiệt động học, độ không tuyệt đối, lực Archimed, độ co giãn không thời gian trong hệ qui chiếu chuyển động, rối lượng tử, lỗ đen Vũ trụ … Với những kết quả đó, nhận thức của chúng ta về Vũ trụ có nhiều thay đổi cơ bản.
     Tóm lại, chúng ta đã xây dựng nên một lý thuyết vật lý thật mới mẻ và tổng quát, dung hòa được hầu hết những thành tựu khoa học trước kia, giải quyết được tất cả những vấn nạn của khoa học hiện đại về những nguyên lý tổng quá bao trùm nhất. Lý thuyết vật lý mới này là sư kế thừa và phát triển lên mức cao hơn của khoa học hiện đại cũng tương tự như sự phát triển từ cơ học Newton lên Thuyết tương đối cùa Einstein vậy.

 48 
 vào lúc: 11:00:55 PM Ngày 10 Tháng Sáu, 2019 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     Nội dung đã pos:

          9. Sự hình thành và phát triển của Vũ trụ từ đột biến lượng tử ban đầu
              a. Thời Tiên Thiên
               b. Thời Hậu Thiên
               c. Một ví dụ tính toán


    Bình luận 8
           Như vậy, trên cơ sở những nghiên cứu ở trên, chúng ta đã tiến hành tính toán các quá trình hình thành và phát triển của Vũ trụ,  và chỉ ra: bằng cách nào, theo phương trình gì, qui luật gì, hết bao lâu, mà một đốm cực nhỏ về kích thước và khối lượng lại có thể phát triển thành Vũ trụ khổng lồ như ta thấy ngày nay. Tất nhiên, những tính toán này trên cơ sở những hằng số được coi là đã đo đạc chính xác như mật độ lớn nhất của vật chất trong Vũ trụ (ρmax), mật độ năng lượng không gian trên Trái đất (p0), tốc độ ánh sáng (c), hằng số hấp dẫn (G), hằng số Hubble (H), …. Đồng thời chúng ta còn chỉ ra sự phát triển tiếp theo như thế nào và tương lai Vũ trụ sẽ ra sao. Tất cả những tính toán đó chúng ta không cần đến những khái niệm thiếu minh bạch, mơ hồ như vật chất tối, năng lượng tối, lỗ trắng, tính không đồng bộ về thời gian, “tương tác ma quỉ”, thời gian trước Bigbang, … giải thích được tất cả những nghịch lý nảy sinh trong vấn đề này của vật lý hiện đại mà vẫn mô tả được Vũ trụ từ khởi nguyên cho tới khi kết thúc, chẳng có một trở ngại nào. Hơn nữa, những luận điểm của lý thuyết mới đều nằm trong một hệ thống triết học đầy đủ và nhất quán, là thể hiện trên thực tế triết học đó một cách cụ thể. Đó chính là học thuyết Âm dương Ngũ hành mà cổ nhân truyền lại mà tinh túy của nó vẫn nằm rải rác trong nền văn hóa Việt tộc. Điều đó không chỉ có ý nghĩa trong khoa học Vật lý nà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu cổ văn hóa sử Việt.


 49 
 vào lúc: 10:10:45 PM Ngày 09 Tháng Sáu, 2019 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Xuân Yumi
THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN VẬT LÝ LẦN 8 - 2019
Chúc mừng 3 bạn đứng đầu sẽ nhận được món quà của diễn đàn TVVL (TOP 3 chúng tôi căn cứ vào điểm số và thời gian nộp bài )
Câu trả lời cá nhân (Đúng/sai) sẽ được gửi vào email cá nhân ngay sau khi công bố kết quả chung.
Cám ơn tất cả các em đã tham dự !
Chị đã gửi kết quả cá nhân, câu đúng sai vào email, các em check email để biết mình sai ở đâu nhé

Đã là đợt thi cuối cùng của Diễn Đàn Thư Viện Vật Lý, Cám ơn các em đã đồng hành cùng diễn đàn Thư Viện Vật Lý trong thời gian vừa qua, hy vọng các lần thi thử của diễn đàn là những trải nghiệm tốt, những kinh nghiệm để các em tự tin bước vào kỳ thi chính thức.
Ban tổ chức chúng tôi chúc các em thi đại học thật tốt, đạt kết quả cao và đậu trường mà mình yêu thích. .
 


 50 
 vào lúc: 09:58:43 PM Ngày 09 Tháng Sáu, 2019 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Điền Quang
Mọi người vào đây tải đề thi & đáp án: http://thuvienvatly.com/download/50392

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »

Tắt bộ gõ tiếng Việt [F12] Bỏ dấu tự động [F9] TELEX VNI VIQR VIQR* kiểm tra chính tả Đặt dấu âm cuối
Powered by SMF 1.1.11 | SMF © 2006, Simple Machines LLC © 2006 - 2012 Thư Viện Vật Lý.