01:31:09 am Ngày 07 Tháng Hai, 2026 *
Diễn đàn đã ngưng hoạt động và vào chế độ lưu trữ.
Mời tham gia và trao đổi trên nhóm Facebook >> TẠI ĐÂY <<
  Trang chủ Diễn đàn  

Đặt điện áp xoay chiều có giá trị hiệu dụng và tần số không đổi vào hai đầu đoạn mạch AB mắc nối tiếp theo thứ tự gồm cuộn cảm thuần L, biến trở R và tụ điện C. Gọi URC là điện áp hiệu dụng ở hai đầu đoạn mạch gồm tụ C và biến trở R, UC là điện áp hiệu dụng ở hai đầu tụ C, UL là điện áp hiệu dụng hai đầu cuộn cảm thuần L. Hình bên là đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của URC, UL và UC theo giá trị của biến trở R. Khi R = R0, thì hệ số công suất của đoạn mạch AB xấp xỉ là
Một con lắc lò xo dao động điều hòa. Biết lò xo có độ cứng 36N/m và vật nhỏ có khối lượng 100g. Lấy π2 = 10   Động năng của con lắc biến thiên theo thời gian với tần số
Để đo suất điện động và điện trở trong của một viên pin, một nhóm học sinh đã mắc sơ đồ mạch điện như hình (H1). Số chỉ của vôn kế và ampe kế ứng với mỗi lần đo được được cho trên hình vẽ (H2). Nhóm học sinh này tính được giá trị suất điện động E và điện trở trong r của pin là
Một dây đồng có 8,5.1028 electron tự do trong một mét khối. Dây có tiết diện thẳng (diện tích mặt cắt ngang) là 1,2 mm2 và trong dây có cường độ dòng điện 2,0 A. Tính tốc độ chuyển động có hướng của các electron.
Một sóng cơ truyền trên mặt nước theo hướng từ A đến E có biên độ 2 cm, tốc độ truyền là 4 m/s. Tại một thời điểm nào đó các phần tử mặt nước có dạng như hình vẽ H2. Cho biết khoảng cách A đến C là 20 cm. Phần tử vật chất tại C đang


Trả lời

NASA vừa khám phá ra một khoáng chất mới trên sao Hỏa

Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: NASA vừa khám phá ra một khoáng chất mới trên sao Hỏa  (Đọc 925 lần)
0 Thành viên và 0 Khách đang xem chủ đề.
ursamajor969
Thành viên mới
*

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 1

Offline Offline

Bài viết: 48


« vào lúc: 05:57:58 pm Ngày 02 Tháng Bảy, 2016 »

Robot thăm dò sao Hỏa của NASA vừa khám phá ra một khoáng chất mới, thay đổi hoàn toàn những gì mà nhân loại đã biết về hành tinh Đỏ.

Các nhà khoa học khám phá ra bằng chứng tridymite có trên sao Hỏa dựa trên phân tích dữ liệu gửi trả lại bằng rô bốt thám hiểm Curiosity Rover của NASA. Tridymite là khoáng chất liên quan đến núi lửa không ổn định trên Trái Đất. Chúng ta đang cố gắng có thể quan sát được sao hỏa bằng các kính thiên vănn như kính thiên văn khúc xạ hay kính thiên văn phản xạ

Những gì robot thám hiểm Curiosity Rover phát hiện được trên sao Hỏa có tiềm năng để viết lại những gì nhân loại biết về hành tinh Đỏ từ trước đến nay. "Nó thực sự tiện lợi, nhưng chúng tôi đã bị sốc... Không có bằng chứng nào xác nhận có các mảng kiến tạo trên sao Hỏa. Đó là lý do tại sao nó là một bất ngờ như vậy khi tìm tridymite này", trưởng nhóm nghiên cứu Richard Morris, cũng là nhà địa hóa học tại Trung tâm vũ trụ Johnson của NASA cho biết.

Không giống như Trái Đất, sao Hỏa không có chuyển biến địa dẫn đến những ngọn núi lửa không ổn định và trận động đất lớn. Điều này đã dẫn đến việc các nhà khoa học hành tinh khẳng định rằng lịch sử địa chất của sao Hỏa là thuần hóa.

Trước khi khám phá tridymite, bằng chứng núi lửa mà họ tìm thấy trên sao Hỏa nhiều hơn những dòng chảy thông thường: núi lửa bazan giống với những gì cấu tạo thành hòn đảo Hawaii. Điều này cho thấy các núi lửa trên sao Hỏa được hình thành như là kết quả của những chùm manti nóng tan ra tìm thấy dưới bề mặt của hành tinh.


NASA khám phá ra khoáng vật quý hiếm tridymite bị che phủ bởi lớp bụi màu xanh nhạt.

Dung nham từ núi lửa bazan rất giàu chất sắt, magiê và ít silica. Việc phát hiện ra tridymite - được tạo thành từ dung nham giàu hàm lượng silica, kết hợp với chất hóa học recrystallizes từ núi lửa sau khi tiếp xúc với nước và nhiệt độ cực nóng, có thể giúp định hình lại những gì nhân loại biết về lịch sử cổ đại của sao Hỏa.

Khám phá Tridymite
Robot thám hiểm Curiosity Rover của NASA đã và đang khám phá miệng núi lửa Gale Crater trên hành tinh Đỏ trong nhiều năm nay. Trong năm 2015, robot bắt đầu khám phá và khai thác cho các mẫu trong một khu vực được gọi là Marias Pass.

Nhóm nghiên cứu Trái Đất đầu tiên dựa trên lưu ý rằng sự xuất hiện của các loại đá đã gợi ý sự hiện diện của silica. Khi nhóm nghiên cứu đã đưa các mẫu đá để phân tích X-ray, kết quả cho thấy mức độ rất cao của tridymite.


Cận cảnh khoáng vật tridymite. (Ảnh: Dakota Matrix Minerals).

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu phỏng đoán các khoáng chất có thể là đã được tạo ra ở đâu đó trên hành tinh Đỏ và bằng cách nào đó đã kết thúc trong lưu vực miệng núi lửa. Các nhà khoa học khẳng định, trong những phát hiện từ nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng nước được sử dụng để lấp đầy vào một số phần của miệng núi lửa.

Theo sau đó, những dòng sông và con suối cổ xưa của hành tinh Đỏ chảy từ những nơi xa xôi có thể đã mang nguyên liệu - những chất có thể được hình thành hoặc đẩy ra bởi những vụ nổ núi lửa ở sao Hỏa. Phát hiện này dẫn đến việc có nhiều câu hỏi hơn, một trong số đó là cách mà những ngọn núi lửa hình thành mà không cần kiến tạo mảng?

Morris nói thêm rằng hoạt động của núi lửa silicic trên hành tinh Đỏ sẽ "biến suy nghĩ của mọi người xung quanh khá hơn một chút". . Cộng đồng khoa học hiện đang tiến hành một số nghiên cứu để phân tích xem làm thế nào mà tridymite địa chất có thể hình thành trong môi trường bazan và nhiệt độ thấp hơn.


Logged


Tags:
Trang: 1   Lên
  In  


 
Chuyển tới:  

© 2006 Thư Viện Vật Lý.