Trang chủ arrow Chuyên đề Vật Lý arrow Vật lí học ở Trung Quốc

Vật lí học ở Trung Quốc
(3 votes)
Người đăng: Trần Nghiêm   
07/03/2010

Charles Day

Với quy mô và chiều sâu của nó, nền vật lí học ở Trung Quốc rất giống với nền vật lí ở những nước lớn, công nghệ tiên tiến khác. Tuy nhiên, ngữ cảnh lịch sử, chính trị, xã hội lại mang tính rất riêng của Trung Quốc.

Sự nổi lên gần đây của Trung Quốc trong lĩnh vực vật lí thật đáng chú ý. Năm 1986, tròn một thập kỉ sau bài học kinh nghiệm đi chệch hướng phát triển của Cách mạng Văn hóa, các nhà vật lí Trung Quốc chỉ công bố có bốn bài báo trên tạp chí Physical Review Letters. Năm 1996, tổng số bài báo đã tăng lên 28; năm 2006, nó đạt tới 206, ngang ngửa với Italy hoặc Tây Ban Nha.

Chất lượng tăng lên cùng với số lượng. Kể từ khi xuất bản, bốn bài báo năm 1986 đó đã tích lũy được trung bình mỗi bài 25 trích dẫn. Hồi năm ngoái, Thomson Reuters đã công nhận một bài báo Trung Quốc là một trong những bài báo “hot” nhất của năm. Bài báo đó, tác giả là Chen Xianhui tại trường đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc (USTC) ở Hefei và các cộng sự của ông, đã tường thuật sự siêu dẫn ở 43K trong một chất liệu gốc sắt mới phát hiện. Nó có 100 trích dẫn. (Ở Trung Quốc, họ viết trước tên, và các bạn sẽ để ý thấy tập quán đó ở phần dưới)



Hình 1. Zhou Xu và Zhu Zhenxi ở Đài thiên văn học quốc gia thuộc Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc đứng bên cạnh CSTARS, một kính thiên văn nhỏ họ vừa lắp đặt tại Mái vòm A ở Nam Cực để kiểm tra khả năng thích hợp của địa điểm này cho sự quan sát từ xa. (Ảnh: Wang Lifan, Đại học Texas A&M)

Bài báo của Chen và những người khác trong vài năm qua là thành quả của những phòng thí nghiệm mới và tân trang lại chứa đầy thiết bị tối tân. Oxford Instruments, một nhà cung cấp hàng đầu sản phẩm máy điều lạnh và những công cụ công nghệ cao dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đã chứng kiến công việc kinh doanh của họ ở Trung Quốc tăng nhảy vọt 78% trong ba năm qua. Trung Quốc cũng đang triển khai xây dựng những trung tâm nghiên cứu mới. Trên vùng bờ biển Vịnh Daya, cách Hong Kong 50 km về hướng bắc, các nhà thầu đang sắp hoàn tất Thí nghiệm Neutrino Lò phản ứng Vịnh Daya. Dự án trị giá 100 triệu đô la Mĩ này nhắm tới mục tiêu đo θ13, một thông số quan trọng, gần bằng zero của các dao động neutrino. Tại Mái vòm A, một cao nguyên Nam Cực ở cao 4 km trên mực nước biển, Trung Quốc đang phát triển những kế hoạch xây dựng một đài thiên văn vĩnh cửu tại một trong những địa điểm cuối cùng chưa được khai thác hết của thế giới dành cho thiên văn học quang học và hồng ngoại (hình 1).Với dân số hơn 1,3 tỉ người và nền kinh tế sắp qua mặt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc có vẻ sắp trở thành một quốc gia đứng đầu về vật lí học. Mặc dù các chỉ số khoa học của họ vẫn còn thấp hơn của Mĩ và EU, cả về số lượng tuyệt đối và bình quân theo đầu người, nhưng họ sẽ đuổi kịp nhanh chóng. Theo một báo cáo mới đây từ Ủy ban Khoa học Quốc gia Mĩ, Trung Quốc đã sắp qua mặt Mĩ về số lượng các nhà nghiên cứu.

Thật vậy, viễn cảnh vật lí học ở Trung Quốc có thể tùy thuộc vào cách thức họ sử dụng nguồn tài nguyên lớn nhất của mình, đó là con người. Và trên phương diện này, các thách thức nằm phía trước đối với Trung Quốc không nhiều lắm với vấn đề tài trợ mà ở việc tạo ra bầu không khí thoải mái để cho trí tưởng tượng và tài khéo léo, chứ không phải sự làm việc cật lực và kĩ năng tinh xảo, có thể phát triển và thăng hoa.

Bài báo này viết trên thực tế hai chuyến đi của tôi đến Trung Quốc, vào tháng 10/2008 và tháng 12/2009. Những phòng nghiên cứu tôi thấy hơi khác một chút với những đối tác của chúng ở phương Tây ngoại trừ, trong một số trường hợp, tính mới mẻ của chúng. Nhưng Trung Quốc khác với phương Tây – và không chỉ khác ở nền văn hóa đặc thù và lịch sử lâu đời. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và mức độ quản lí tập trung cao độ của chính quyền đã tạo ra một ngữ cảnh độc đáo đối với lĩnh vực vật lí học. Mô tả ngữ cảnh đó là mục tiêu của bài viết này.

Đôi nét lịch sử

Nếu như nền khoa học hiện đại được đặc trưng bởi các tạp chí, các hiệp hội chuyên nghiệp, các phòng thí nghiệm nghiên cứu, thì vật lí học và những ngành khoa học khác bắt đầu hiện đại hóa chỉ khi triều đại phong kiến cuối cùng, triều nhà Thanh, bị lật đổ vào năm 1911. Năm 1937, khi Nhật Bản xâm chiếm hoàn toàn Trung Quốc, nền khoa học ở Trung Quốc đã đạt được nhiều chất lượng và biểu hiện mà một nhà nghiên cứu khách mời đến từ châu Âu hoặc Mĩ sẽ công nhận là hiện đại.

Những kẻ chủ mưu chủ chốt của sự biến chuyển đó là những người trẻ tuổi nhìn thấy khoa học là một nền tảng của một đất nước Trung Hoa độc lập, hiện đại và hùng mạnh. Nhiều người trong số họ đã khai thác một nguồn quỹ thành lập năm 1907 bởi chính quyền của tổng thống Mĩ Theodore Roosevelt bồi thường cho sự thiệt hại sau cuộc khởi nghĩa của Nghĩa hòa đoàn năm 1900. Cũng số tiền tài trợ ấy đã trả cho việc thành lập trường đại học Tsinghua ở Bắc Kinh.

Như kể lại bởi nhà sử học Wang Zuoyue thuộc trường Đại học Bách khoa Bang California ở Pomona, “nghĩa quân Nghĩa hòa đoàn” đã thông qua một cách tiếp cận phức tạp, đa phương. Năm 1914-15, trong khi nghĩa quân còn là sinh viên ở Mĩ, họ đã thành lập Hội Khoa học Trung Quốc và cho xuất bản một tạp chí gọi là Kexue (Khoa học). Sau khi những nghĩa quân đầu tiên tốt nghiệp và trở về Trung Hoa, họ đã tranh thủ những ông chủ giàu có, xuất bản các bài báo khoa học, và thuyết phục các nhà chính trị ủng hộ cho khoa học. Phòng thí nghiệm hiện đại đầu tiên của Trung Quốc, Viện Sinh học Nam Kinh, được thành lập bởi hội trên vào năm 1922.

Chiến tranh kết thúc hứa hẹn sự khởi đầu mới. Sự bại trận của Nhật Bản năm 1945 sau một thời kì chiếm đóng tám năm tàn phá khủng khiếp được nối tiếp theo sau là cuộc nội chiến kéo dài bốn năm, trong đó Đảng Cộng sản của Mao Trạch Đông và Đảng Quốc gia của Tưởng Giới Thạch đấu đá giành quyền lãnh đạo đất nước. Sau chiến thắng của Đảng Cộng sản vào năm 1949, viễn cảnh trước mắt đối với vật lí học và khoa học là không chắc chắn. Mao tán thành rằng khoa học là cần thiết cho sự tiến bộ và thịnh vượng của đất nước Trung Hoa. Tuy nhiên, ông không hoàn toàn tin hẳn vào khoa học. Cuộc cách mạng của ông là một cuộc đấu tranh của những người nông dân nghèo chống lại giai cấp tư sản và “những tầng lớp bóc lột” khác. Các nhà khoa học rõ ràng chẳng phải là nông dân.

Năm 1954, Liên Xô từ chối giúp Trung Quốc chế tạo một quả bom nguyên tử. Không lâu sau đó, Trung Quốc bắt tay vào dự án Manhattan của riêng mình, dự án không chỉ phát triển vũ khí hạt và tên lửa đạn đạo mà còn xây dựng một sự nghiệp nghiên cứu quốc gia quy mô lớn. Tuy nhiên, tính khiên cưỡng mới lập của nền khoa học đã không dung thứ cho một số nhà khoa học, trong đó có các nhà vật lí, khỏi bị ngược đãi trong Phong trào chống hữu khuynh năm 1957.

Năm 1964, thủ tướng Chu Ân Lai trình bày một bản cáo trước Quốc vụ viện báo trước thái độ hiện nay của chính phủ Trung Quốc hướng đến khoa học. Bản báo cáo của Chu nêu ra bốn lĩnh vực, sau này gọi là Bốn Hiện đại hóa, trong đó Trung Quốc cần thực hiện sự đổi mới: nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng, khoa học và công nghệ. Trong bản báo cáo của ông, Chu còn lưu ý rằng khoa học và công nghệ là thiết yếu cho các lĩnh vực kia, là cần thiết cho cả nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, trung hòa về mặt ý thức hệ, và hữu ích đối với mọi quốc gia và tộc người trên thế giới.

Tầm nhìn xa trông rộng của Chu hướng đến nền khoa trung hòa về mặt ý thức hệ đã bị trì hoãn. Năm 1966, Mao, e ngại hệ thống quyền lực của ông đang tuột dốc, đã khởi xướng Cách mạng Văn hóa. Trong ba năm đầu tiên khốc liệt của nó, các nhà khoa học, các bác sĩ, các chủ hiệu – nghĩa là những người có sự chiếm hữu tư sản – đã bị tố giác và đày đi nông thôn làm việc cùng với những người nông dân nghèo, trồng hoa màu và nuôi gia súc. Tuy nhiên, khoa học thì không chết. Trong Cách mạng Văn hóa, Trung Quốc đã phóng một vệ tinh và cho nổ một quả bom khinh khí. Các nhà vật lí lui về vui thú điền viên vẫn giữ được kiến thức của họ. Năm 1972, khi tạp chí Physics Today xuất bản kết quả khảo sát đầu tiên của mình về nền vật lí ở Trung Hoa, nghiên cứu đã được thiết lập trở lại với sự nhấn mạnh vào những lĩnh vực ứng dụng.

Cái chết của Mao năm 1976 dẫn đến một cuộc đấu tranh giành quyền lực nội bộ từ đó Đặng Tiểu Bình đã nổi lên là nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc. Đặng, giống như Chu, công nhận tầm quan trọng của khoa học và công nghệ. Trong một bài phát biểu tại một hội nghị khoa học quốc gia năm 1978, ông khéo léo bào chữa cho các nhà khoa học có tư tưởng không tốt bằng cách định nghĩa lại họ: “Trí thức là bộ phận của tầng lớp lao động”, ông công khai không úp mở. “Những người làm việc với trí não của họ là một bộ phận của những người lao động”.

Những người kế vị của Đặng, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, đều được đào tạo là kĩ sư, đã tiếp tục chính sách của ông. Ba năm sau, Trung Quốc đã công bố Kế hoạch Trung hạn đến Dài hạn 15 năm cho Sự phát triển Khoa học và Công nghệ (MLP). Như thể tiếng vọng của Chu, bản kế hoạch đã đặt khoa học và công nghệ vào trọng điểm của nền kinh tế Trung Quốc. Trong số những mục tiêu của nó, MLP kêu gọi Trung Quốc đầu tư 2,5% tổng sản lượng quốc nội cho R&D vào năm 2020 và đưa dịch vụ công nghệ chiếm hơn 60% sự tăng trưởng kinh tế. Theo Ủy ban Khoa học Quốc gia Mĩ, nền công nghiệp tập trung vào kiến thức và công nghệ đóng góp 23% GDP của Trung Quốc năm 2007 (Con số này đối với Mĩ là 38%).

Khoa học thật sự đã đẩy mạnh sự thịnh vượng của Trung Quốc. Năm 1984, 11 nhà nghiên cứu ở Viện Khoa học Máy tính thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Hoa (CAS) ở Bắc Kinh đã thành lập một công ti máy tính nhỏ tên gọi là Lianxiang. “Killer app” của công ti là một thuật toán giúp dễ dàng nhập các kí tự Trung Quốc từ bàn phím chuẩn. Năm 2005, công ti trên, dưới tên gọi mới của nó, Lenovo, đã lớn mạnh đến mức nó có thể mua lại toàn bộ chi nhánh sản xuất PC của IBM. CAS vẫn là cổ đông lớn nhất của công ti trên.

Lenovo được thành lập với tiền hạt giống từ Viện Khoa học Máy tính. ZTE Corp, một nhà sản xuất thiết bị viễn thông lớn thành lập năm 1985, ra đời từ bộ hàng không vũ trụ của Trung Quốc. Trái lại, Suntech Power mới thành lập gần đây, một công ti hàng đầu thế giới về sản xuất pin quang điện mặt trời, đã khởi nghiệp vào năm 2001 theo kiểu rất giống với các công ti công nghệ cao ở Mĩ hay làm: khi nhà sáng lập thuyết phục được nhà đầu tư đỡ đầu cho một ý tưởng.

Sự nhấn mạnh của MLP vào sự tăng trưởng do công nghệ đứng đầu đã mở rộng cửa cho nghiên cứu cơ bản, như thủ tướng hiện nay của Trung Quốc, Ôn Gia Bảo, làm sáng tỏ trong một bài trả lời phỏng vấn tạp chí Science năm 2008:

Cá nhân tôi xem nghiên cứu khoa học cơ bản là có tầm quan trọng to lớn, vì tôi tin rằng không có nghiên cứu ứng dụng hay nghiên cứu phát triển nào có thể thực hiện được mà không có nghiên cứu cơ bản hỗ trợ và làm động lực. Nhưng, trong thế giới này của chúng ta, thường thì do người ta tập trung vào những lợi ích trước mắt và thực tiễn, nên người ta dễ dàng bỏ qua khoa học cơ bản. Điều này cần nên tránh.

(Còn tiếp phần 2...) 

Charles Day (Physics Today, tháng 3/2010)

Đọc: 301
Lời bình (0)add comment

Viết lời bình

busy
Các Bài Khác
Bài Mới Hơn
Bài Đã Đăng
Cập nhật ( 07/03/2010 )
 
dang bai
< Trước   Tiếp >
follow TVVL Twitter Facebook Youtube Scirbd Rss