|
|
|
Vật lý và Đời sống
Vật lý Việt Nam trong sự nghiệp hiện đại hoá đất nước
| Vật lý Việt Nam trong sự nghiệp hiện đại hoá đất nước |
| Người đăng: Trần Triệu Phú | |
| 02/02/2010 | |
|
GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu
Tất cả các ngành khoa học tự nhiên đều phải ứng dụng các thành tựu mới của toán học và vật lý mới phát triển được như ngày nay, đều phải sử dụng các thiết bị hoạt đông theo các nguyên lý là thành tựu của vật lý. Nhiều lĩnh vực công nghệ cao như điện tử, quang tử, viễn thông, tự động hoá, kỹ thuật máy tính, ... đều dựa trên những nguyên lý là các phát minh vật lý, phải có trình độ hiểu biết cao về vật lý mới tiếp thu được khi chuyển giao từ nước ngoài. Muốn phát triển các lĩnh vực khoa học tự nhên khác và công nghệ cao nhất thiết phải phát triển toán học và vật lý. Ngoài ra, tuổi trẻ khoa học Việt Nam lại rất có năng khiếu về toán học và vật lý. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã nhận định rằng đó cũng là một tài nguyên của đất nước, một tiềm năng cần phát huy, và giao nhiệm vụ cho Hội Toán học Việt Nam và Hội Vật lý Việt Nam soạn thảo Chiến lược phát triển Toán học và Chiến lược phát triển Vật lý trình Chính phủ phê duyệt. Trong bản tham luận này tôi xin trình bày ngắn gọn về một số vấn đề mà tôi xin đề xuất nên đưa vào trong bản chiến lược đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. I. Nhiệm vụ của ngành vật lý1. Góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và nhân tài cho đất nước; 2. Góp phần nâng cao năng lực làm chủ thiên nhiên của con người Việt Nam: dự báo, phòng tráng và giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường; 3. Ứng dụng những thành tựu mới của vật lý vào sản xuất, đời sống và trong các ngành khoa học khác; 4. Nghiên cứu cơ bản theo những hướng có chọn lọc để làm chủ những công nghệ cao được sáng tạo trên cơ sở các thành tựu của vật lý và chuyển giao từ nước ngoài. Phát huy tiềm năng trí tuệ về vật lý của con người Việt Nam, nghiên cứu theo những hướng hiện đại của vật lý không đòi hỏi đầu tư quá lớn, tham gia các dự án và trung tâm nghiên cứu các vấn đề hiện đại của vật lý. 5. Phát triển các lĩnh vực khoa học đa ngành có liên quan. II. Nâng cao chất lượng giảng dạy vật lý trong trường trung học và các trường cao đẳng, đại học1. Đổi mới chương trình giảng dạy sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy vật lý; III. Phát triển các hướng nghiên cứu vật lý để tăng cường năng lực làm chủ thiên nhiên1. Phát triển hoặc xây dựng mới các đơn vị nghiên cứu vật lý trái đất và vật lý môi trường (bao gồm cả các vấn đề hiện nay được coi là đối tượng của cơ học chất lưu) mở ra hướng nghiên cứu mới của vật lý trái đất để tăng cường năng lực làm chủ thiên nhiên: dự báo, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, sử dụng có hiệu quả các điều kiện tự nhiên của đất nước. IV. Phát triển, ứng dụng vật lý1. Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp vật lý, các thành tựu của vật lý trong các ngành khoa học tự nhiên khác, trong sản xuất và đời sống. V. Nghiên cứu cơ bản về vật lý và nghiên cứu vật lý kỹ thuật1. Phát triển nghiên cứu cơ bản có chọn lọc về vật lý và nghiên cứu một số công nghệ cao phát triển trên cơ sở các thành tựu của vật lý, trong đó có vật lý lý thuyết, quan học lượng tử và quang tử, vật lý chất rắn và vật lý chất mềm, vật lý vô tuyến. VI. Phát triển các lĩnh vực đa ngành có liên quan1. Tiếp tục phát triển khoa học vật liệu, đặc biệt là khoa học và công nghệ nanô. VII. Một số biện pháp đột phá1. Tăng cường và xây dựng một số đơn vị nghiên cứu vật lý trái đất. ------ Bài viết trích từ báo cáo toán văn "Hội nghị Vật lý Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 3 Thành phố Hồ Chí Minh", ngày 19 tháng 12 năm 2009 >>Mời Xem thêm bài Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy vật lý Tôi thích bài này! Đăng lên Facebook...
Email cho bạn
Đọc: 410 Lời bình (0)
![]() Viết lời bình
Bài Đã Đăng
|
|
| Cập nhật ( 02/02/2010 ) |
| Tiếp > |
|---|