Sử dụng các phương tiện dạy học
Người đăng: h   
27/10/2009

Hi vọng với bài viết này sẽ giúp các bạn sinh viên năm tư và các thầy cô mới ra trường sẽ có thêm kinh nghiệm trong việc sử dụng các phương tiện dạy học hiệu quả!

 

I. SỬ DỤNG BẢNG

Bảng là một phương tiện dạy học quan trọng và gần gủi nhất với các lý do sau:

  • Có thể ghi chép trên bảng theo tiến trình dạy học.
  • Học sinh thấy được rõ ràng các nội dung ghi trên bảng.
  • Có thể xóa sửa một cách dễ dàng.
  • Học sinh có thể trình bày bài giải trên bảng cho cả lớp cùng xem.
  • Có thể minh họa bằng hình vẽ, cách bố trí các thí nghiệm biểu diễn, cơ cấu hoạt động của các dụng cụ máy móc.
  • Yêu cầu về nội dung và kỹ thuật ghi chép trên bảng

Đảm bảo các yêu cầu sau:

  • Phải ghi chép một cách có hệ thống, phản ánh được quá trình phát triển của nội dung bài học.
  • Vạch rõ bản chất được bản chất vật lí của vấn đề nghiên cứu, nhất là trong trường hợp có suy luận toán học.
  • Tập trung được sự chú ý của học sinh vào những vấn đề cần thiết và quan trọng.
  • Củng cố được nội dung nghiên cứu trong giờ học.
  • Hướng dẫn được nội dung nghiên cứu trong giờ học.
  • Hướng dẫn được học sinh ghi chép vào vở và học tập ở nhà.

Để thỏa mãn yêu cầu trên, kết hợp lời nói và viết, sử dụng các phương tiện dạy học khác, giáo viên có thể ghi lên bảng những điểm sau:

  • Đầu bài (tên đề mục và các tiểu mục).
  • Các hình vẽ, sơ đồ, đồ thị.
  • Những công thức và các hệ quả suy ra từ những công thức khác.
  • Sơ đồ bố trí thí nghiệm, các bước chính trong tiến trình thí nghiệm, bảng số liệu thu được từ thí nghiệm và những kết luật rút ra từ thí nghiệm.
  • Bài giải mẫu (nếu có).
  • Những thuật ngữ mới, tên tuổi các nhà bác học, tài liệu lịch sử và kỹ thuật.
  • Bài tập về nhà.

Nên chia bảng thành 2 phần:

  • Một phần cần giữ lại trên bảng suốt giờ học.
  • Phần thứ hai có thể xóa đi khi cần thiết.

Lưu ý: Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo nội dung ghi trên bảng ngay từ khi soạn kế hoạch chi tiết cho mỗi tiết học.

Chữ viết cần đủ lớn, thẳng hàng và đúng lúc, có thể sử dụng phấn màu để làm nỗi bật những điểm cần chú ý.

Hình vẽ cũng sử dụng đúng lúc, và vẽ đúng kỹ thuật họa hình.

 

II. SỬ DỤNG VẬT THẬT

Giáo viên phải chọn lựa những vật thật có thể đưa vào lớp học và sử dụng đúng lúc ở các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học.

III. CÁC THIẾT BỊ THÍ NGHIỆM

Giá trị đặc biệt của các thiết bị thí nghiệm đối với dạy học vật lí là :

  • Tạo điều kiện cho sự nghiên cứu có hệ thống, trực quan các hiện tượng, quá trình vật lí hình thành các khái niệm, nghiên cứu các định luật một cách trực tiếp.
  • Tạo điều kiện nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lí.

III.1. Các thiết bị thí nghiệm biểu diễn

  • Đủ lớn.
  • Kết quả thu được chính xác.

III.2. Các thiết bị thực hành

  • Sử dụng đơn giản bằng tay
  • Việc lắp ráp ít tốn thời gian
  • Dễ dàng phối hợp, thay đổi các chi tiết
  • Các dụng cụ đều vững chắc, an toàn và đẹp về hình thức.

IV. SỬ DỤNG MÔ HÌNH VẬT CHẤT

Các mô hình vật chất giữ vai trò quan trọng trong dạy học vật lí. Chúng sử dụng để minh họa các hiện tượng, quá trình vật lí vi mô, trực quan hóa các mô hình lý tưởng.

Các mô hình sử dụng trong dạy học vật lí có thể là mô hình tĩnh, mô hình động, mô hình phẳng hoặc mô hình không gian.

Sử dụng mô hình vật chất giúp cho học sinh làm quen với một trong các phương pháp nghiên cứu của vật lí là phương pháp mô hình.

V. SỬ DỤNG TRANH ẢNH VÀ BẢN VẼ CÓ SẴN

Tranh ảnh và các bản vẽ sẵn trên giấy, trên tấm bản trong là một phương tiện dạy học giúp cho sự mô tả các đối tượng, hiện tượng, quá trình vật lí vừa sinh động, vừa tốn ít thời gian trên lớp.

Người ta thường sử dụng các bản vẽ trong trong những trường hợp sau đây:

  • Thông tin cần trình bày nhiều.
  • Khi nghiên cứu các thiết bị kỹ thuật hoặc xét các hiện tượng cần có sự xuất hiện dần dần từng bộ phận trước mắt học sinh, người ta thường dùng các bản trong vẽ riêng từng bộ phận và xếp dần lên nhau trong quá trình nghiên cứu.
  • Trong tiết học có sử dụng các tranh ảnh và bản vẽ sẵn, cần lưu ý: chỉ treo chúng lên khi cần thiết và sau khi dùng xong, cần cất đi ngay tránh sự phân tán chú ý của học sinh.

VI. SỬ DỤNG TÀI LIỆU IN

VI.1. Sách giáo khoa

Sách giáo khoa là một trong những phương tiện dạy học quan trọng của dạy học vật lí ở trường phổ thông và thực hiện đồng thời hai chức năng: là phương tiện làm việc của học sinh và là phương tiện hỗ trợ giáo viên hiểu và thực hiện chương trình dạy học đã qui định.

Để học sinh làm việc có hiệu quả với sách giáo khoa nói riêng với tài liệu in nói chung, điều quan trọng là phải bồi dưỡng cho học sinh ngày càng tự lực tiến hành các hoạt động sau:

Tìm thông tin (thông qua mục lục)

Tiếp nhận thông tin (đọc các đoạn văn, xem hình vẽ, tra cứu số liệu… trong sách)

Định hình thông tin (gia công thành các ý, gạch chân những ý quan trọng)

Chế biến thông tin theo mục đích đặt ra.

Vận dụng thông tin trong phạm vi nhất định (thảo luận, báo cáo).

Việc hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, giáo viên cần chú ý:

Sự chuẩn bị của học sinh để làm việc với sách giáo khoa là yếu tố quan trọng, giáo viên phải giao cho học sinh dưới dạng một nhiệm vụ học tập (trả lời các câu hỏi), kích thích học sinh làm việc với sách giáo khoa (tìm, tiếp nhận và chế biến thông tin)

Trong giai đoạn mỗi học sinh làm việc tự lực trực tiếp với sách giáo khoa, giáo viên phải lưu ý học sinh thâu tóm nội dung của đoạn sách giáo khoa, rút ra những phát biểu cô đọng (các câu trả lời) cho việc hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Ở giai đoạn đánh giá kết quả làm việc với sách giáo khoa của học sinh, giáo viên phải kiên nhẫn sửa chữa những cái sai, bổ sung những cái chưa đầy đủ.

VI.2. Sách bài tập

Cũng như sách giáo khoa sách bài tập là phương tiện học tập cơ bản, bởi vì giải bài tập là một trong những phương pháp dạy học cần thiết để rèn luyện cho học sinh kỹ năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn.

VI.3. Sách hướng dẫn thí nghiệm

Sách hướng dẫn thí nghiệm bao gồm một hệ thống các bài thí nghiệm thực hành vật lí sau khi học sinh đã học xong phần lý thuyết. Việc thực hiện các bài thí nghiệm thực hành thúc đẩy tính tự lực cao của học sinh.

VI.4. Tài liệu tham khảo

Để phát triển hứng thú học tập, tích cực hóa hoạt động nhận thức, đào sâu và mở rộng kiến thức, kỹ năng của học sinh, giáo viên cần đưa ra các tài liệu tham khảo cần thiết. Thông qua đó, học sinh rèn luyện được thói quen, kỹ năng làm việc với sách như là một nguồn kiến thức cho cuộc sống sau này của mình.

VII. SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC HIỆN ĐẠI

VII.1. Phim học tập

  • Phim đèn chiếu

  • Phim chiếu bóng

  • Phim vô tuyến truyền hình

  • Phim VIDEO

  • Phim VCD, DVD

a) Các trường hợp cần thiết cần sử dụng phim:

Khi nghiên cứu các đề tài không thể làm thí nghiệm được.

Khi nghiên cứu các đối tượng, hiện tượng vật lí không thể quan sát, đo đạc được trực tiếp do chúng quá nhỏ hoặc quá to.

Khi nghiên cứu quá trình vật lí diễn ra nhanh.

Khi nghiên cứu các hiện tượng diễn ra ở những nơi, những thời điểm không thể quan sát trực tiếp được.

Khi nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lí.

Khi trình bày lịch sử phát triển của một vấn đề vật lí.

b) Lợi ích của việc sử dụng phim trong giảng dạy vật lí

Phim học tập giúp thu nhận thế giới tự nhiên vào lớp học.

Điều chỉnh được tốc độ nhanh chậm, to nhỏ của các hiện tượng, quá trình làm cho học sinh quan sát rõ hơn các hiện tượng, các quá trình vật lí.

Từ tín hiệu âm thanh, hình ảnh tạo cho học sinh biểu tượng tốt hơn về đối tượng nghiên cứu và còn làm tăng tính trực quan và hiệu quả xúc cảm của phương tiện dạy học.

Phim học tập có thể sử dụng ở tất cả giai đoạn của quá trình dạy học (tạo động cơ, đề xuất vấn đề, nghiên cứu vấn đề, cũng cố…), ở trong lớp học hoặc ngoài lớp, giờ học chính khóa hoặc ngoại khóa.

c) Phương pháp sử dụng phim học tập trong dạy học

Giáo viên phải căn cứ vào mục đích sử dụng, nội dung phim để định ra biện pháp sư phạm thích hợp.

Các giai đoạn chủ yếu của giáo viên đối với phim học tập.

Đặt kế hoạch sử dụng phim trong kế hoạch dạy học tổng thể một chương, một phần cụ thể. (sử dụng lúc nào? nhằm mục đích gì về mặt lý luận dạy học?).

Các công việc chuẩn bị với học sinh trước khi sử dụng phim.

Học sinh phải ôn tập những kiến thức có liên quan đến nội dung phim. Nêu được mục đích sử dụng phim, khiêu gợi tính tò mò nhận thức.

Trước khi chiếu phim phải định hướng sự chú ý của học sinh vào những nội dung cơ bản. Nêu các nhiệm vụ hoàn thành sau khi xem phim.

VII.2. SỬ DỤNG MÁY VI TÍNH

Bên cạnh các lĩnh vực sử dụng thường thấy trong các môn học khác như: học, ôn tập, kiểm tra đánh giá và xử lý kết quả bằng máy…máy vi tính còn được sử dụng chủ yếu trong dạy học vật lí ở các lĩnh vực quan trọng như sau:

  • Sử dụng máy vi tính trong mô phỏng các đối tượng vật lí nghiên cứu của vật lí.
  • Sử dụng máy vi tính hỗ trợ việc xây dựng các mô hình toán học (đồ thị, biểu thức, phương trình) của các hiện tượng, quá trình vật lí.

  • Sử dụng máy vi tính hỗ trợ các thí nghiệm vật lí.

  • Sử dụng máy vi tính hỗ trợ việc phân tích băng hình ghi quá trình vật lí thực.

VIII. THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ

VIII.1. Các đặc điểm của thí nghiệm vật lí

Các điều kiện của thí nghiệm vật lí phải được lựa chọn và được thiết lập có chủ định sao cho thông qua thí nghiệm, có thể trả lời được câu hỏi đặt ra, có thể kiểm tra được giả thuyết hoặc hệ quả suy ra từ giả thuyết. Mỗi thí nghiệm có 3 yếu tố cấu thành cần được xác định rõ: Đối tượng cần nghiên cứu, phương tiện gây tác động lên đối tượng cần nghiên cứu và phương tiện quan sát, đo đạc thu nhận các kết quả của sự tác động.

Các thiết bị thí nghiệm có độ chính xác ở mức độ nhất định.

Đảm bảo sự quan sát được của các đại lượng biến đổi trong khi tiến hành thí nghiệm.

Có thể làm lại các thí nghiệm nhiều lần và đảm bảo kết quả thu tương đối giống nhau.

VIII.2. Vai trò của thí nghiệm vật lí trong dạy học

Thí nghiệm vật lí là cơ sở để xây dựng, chứng minh kiến thức vật lí.

Thí nghiệm vật lí (cho học sinh làm) có tác dụng bồi dưỡng cho học sinh phương pháp nghiên cứu vật lí, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, sử dụng các dụng cụ đo và các dụng cụ thiết bị khác.

Thí nghiệm vật lí có tác dụng bồi dưỡng cho học sinh kiến thức, kỹ năng kỹ thuật tổng hợp.

Thí nghiệm vật lí có thể sử dụng như phương tiện để đề xuất vấn đề; để cho học sinh vận dụng, cũng cố kiến thức, để kiểm tra kiến thức vật lí của học sinh.

Thí nghiệm vật lí có tác dụng bồi dưỡng một số đức tính tốt cho học sinh (tính chính xác, tính trung thực, tính cẩn thận, tính kiên trì).

VIII.3. Các loại thí nghiệm trong dạy học vật lí

VIII.4.1. Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên

Là các thí nghiệm giáo viên giới thiệu một cách tương đối nhanh với học sinh chủ yếu về mặt định tính các hiện tượng, quá trình và các qui luật nghiên cứu, cấu tạo và hoạt động của một vài dụng cụ và thiết bị kỹ thuật, những cái mà học sinh có thể cảm thụ được bằng mắt và tai.

Thí nghiệm biểu diễn có thể phân ra thành 3 loại:

  • Thí nghiệm mở đầu: nhằm mục đích đề xuất vấn đề nghiên cứu.
  • Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng: nhằm mục đích xây dựng hoặc chứng minh kiến thức mới.
  • Thí nghiệm cũng cố: cho học sinh vận dụng kiến thức đã học giải thích dự đoán hiện tượng, qua đó nắm vững kiến thức đã học.

VIII.4.2. Thí nghiệm do học sinh thực hiện

a) Thí nghiệm trực diện đồng loạt của học sinh

Thí nghiệm do học sinh trực tiếp tiến hành đồng loạt chủ yếu là kiểm tra tính đúng đắn của các hệ quả lý thuyết. Giúp cho học sinh hoàn thiện kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng và thói quen khi sử dụng các dụng cụ.

b) Thí nghiệm thực hành vật lí

Cũng được dùng vào mục đích như thí nghiệm trực diện. Nhưng mức độ tự lực của học sinh ở đây cao hơn, họ áp dụng kiến thức vào những điều kiện mới. Tạo khả năng ôn tập kiến thức đã học ở mức độ cao hơn, làm quen với các yếu tố tự lực nghiên cứu thực nghiệm.

c) Các bài toán thực nghiệm

Các bài toán thực nghiệm đòi hỏi phải tìm tòi bằng thực nghiệm tự lực những số liệu khởi đầu để giải quyết về mặt lý thuyết các bài toán đó và kiểm tra tiếp theo bằng thực nghiệm tính đúng đắn của kết quả thu được.

d) Thí nghiệm quan sát ở nhà

Thí nghiệm quan sát ở nhà là một loại bài tập thực hiện tự lực các thí nghiệm đơn giản nhất.

Như vậy, theo hệ thống thí nghiệm nói trên, tất cả học sinh được làm quen dần với việc nghiên cứu các hiện tượng vật lí theo mục đích đã đề ra, làm quen dần với các thiết bị kỹ thuật và phương pháp làm việc với nó.

VIII.4. Phương pháp sử dụng thí nghiệm dạy học vật lí

VIII.4.1. Những yêu cầu chung về việc sử dụng thí nghiệm

Cần xác định rõ sơ đồ thí nghiệm và mục đích của thí nghiệm (dụng cụ thiết bị nào? trình tự thao tác như thế nào? cần quan sát, đo đạc cái gì? để làm gì?)

Thí nghiệm phải thành công, có kết quả rõ ràng.

Mọi dụng cụ thiết bị và cách tiến hành thí nghiệm phải thỏa mãn những qui tắc và kỹ thuật an toàn.

VIII.4.2. Yêu cầu đối với thí nghiệm biểu diễn của giáo viên

Cần đảm bảo cho học sinh ý thức được sự cần thiết tiến hành thí nghiệm, mục đích thí nghiệm, phương án thí nghiệm và tham gia vào quá trình quan sát thí nghiệm, phân tích kết quả.

Cần tiến hành thí nghiệm đúng lúc trong mối quan hệ hữu cơ với giảng bài và hướng dẫn học sinh học tập.

Tạo điều kiện sao cho các phần căn bản, các chi tiết quan trọng của thiết bị dụng cụ đều được học sinh trong lớp nhìn rõ. Đảm bảo cho học sinh quan sát được rõ ràng các hiện tượng biểu diễn.

Thí nghiệm phải ngắn gọn và đảm bảo thành công.

VIII.4.3. Yêu cầu đối với thí nghiệm trực diện của học sinh

Có thể sử dụng thí nghiệm trực diện trong thời gian ngắn 5-10 phút nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình giáo viên giảng giải kiến thức mới. VD (Nghiên cứu hoạt động của một số dụng cụ nào đó: lực kế, biến trở, … hoặc xác định gần đúng một đại lượng vật lí như tiêu cự của thấu kính…) hoặc dùng kiểm nghiệm một qui luật nào đó.

Công việc thí nghiệm cần được tiến hành đồng thời với cả lớp.

Những chỉ dẫn của giáo viên trong tiến trình thí nghiệm là cần thiết.

VIII.4.4. Yêu cầu đối với thí nghiệm thực hành của học sinh

Thí nghiệm thực hành khi học sinh đã có những kỹ năng thí nghiệm ban đầu và các thí nghiệm trực diện.

Để làm thí nghiệm thực hành học sinh được chia thành từng nhóm từ 2-3 học sinh. Mỗi nhóm nhận một bài riêng và bản hướng dẫn thực hiện. Nội dung bản hướng dẫn bao gồm các điểm sau:

  • Đề tài thí nghiệm
  • Mô tả dụng cụ, thiết bị
  • Trình tự thao tác tiến hành thí nghiệm
  • Sơ đồ ghi các kết quả quan sát và phương pháp xử lý kết quả.
  • Những câu hỏi phải hiểu sâu sắc thí nghiệm mới trả lời được và đôi khi có thể đề ra thí nghiệm bổ sung.
  • Nội dung cần viết báo cáo thí nghiệm.

VIII.4.5. Các bài toán thí nghiệm

Trong các bài toán thí nghiệm, thí nghiệm cần được sử dụng như một trong những phương tiện quan trọng nhằm thu thập các số liệu cần thiết để giải, và như một phương tiện kiểm tra tính đúng đắn của các kết quả thu được bằng tính toán lý thuyết. Học sinh luyện tập việc áp dụng những kiến thức đã có và những kỹ xảo thí nghiệm để giải quyết những vấn đề cụ thể có liên quan với thực hành.

VIII.4.6. Thí nghiệm và quan sát ở nhà

Những thí nghiệm và quan sát tự lực được thực hiện theo nhiệm vụ mà giáo viên giao cho ở nhà hay ở các nhóm. Những bài thí nghiệm này thường dùng các dụng cụ đơn giản thường có ở nhà như thước dây, cân, nhiệt kế y học,v.v…

Sưu tập từ Sức Trẻ

Cập nhật ( 28/10/2009 )
 
MobiPro
Vui Lòng Đợi

Chúng tôi hiện có hơn 60 nghìn tài liệu để bạn tìm


Tuyển sinh Lập trình mobile
Cầu vồng   |   Đăng nhập Đăng nhậpnew
Đang online (200)