Lịch sử vật lí trên những con tem (Phần 28)
Người đăng: Trần Nghiêm   
04/09/2009

Điện trường và từ trường (3)


Heinrich Friedrich Emil Lenz (1804-1865) là nhà vật lí người Nga học tại trường đại học thuộc thành phố quê hương Dorpat (nay là Tartu ở Estonia). Ông bắt đầu giảng dạy tại trường đại học St.Petersburg, nơi ông trở thành giáo sư năm 1836.

Lenz nghiên cứu về sjw dẫn điện và điện từ học. Ông nổi tiếng nhất với “định luật Lenz”: dòng điện cảm ứng do sự biến đổi gây ra chạy theo chiều chống lại nguyên do tạo ra sự biến đổi đó. 

 

James Clerk Maxwell (1831-1879) sinh ra một trong gia đình lãnh chúa tại Dumfrieshire (Scotland), là con trai của một luật sư làm việc ở Edinburgh. Ông học toán học và vật lí tại trường đại học Edinburgh trong 3 năm. Sau đó, ông chuyển tới trường Trinity College ở Cambridge, và sau khi tốt nghiệp, ông trở thành một trợ lí khoa học. Với sự ủng hộ của công tước xứ Devonshire, ông đã có thể thành lập phòng thí nghiệm vẫn được cho là của Cavendish. Bản thân ông là một giáo sư có kiến thức uyên bác về các lĩnh vực điện học, từ học và nhiệt động lực học.

Maxwell nổi tiếng nhất với lí thuyết điện từ ánh sáng của ông, trong đó ông thống nhất điện học, từ học và ánh sáng chỉ trong một lí thuyết duy nhất. “Hệ phương trình Maxwell” là bộ phương trình vi phân biểu diễn mối liên hệ toán giữa điện trường, từ trường và tốc độ ánh sáng.

 

 

Heinrich Hertz (1857-1894) sinh tại Hamburg, học kĩ thuật và sau đó học vật lí tại trường đại học Berlin, dưới sự hướng dẫn của Hermann von Helmholtz.

Ông trở thành giáo sư vật lí tại Karlsruhe và Bonn.

Hertz đã chứng minh lí thuyết của Maxwell bằng các phương tiện thí nghiệm và chứng tỏ rằng sóng điện từ có thể tạo ra được. Với “dao động tử Hertz” này, ông đã tạo ra được sóng điện từ (sóng Hertz). Khám phá này là sự khởi đầu của công nghệ vô tuyến.

“Hertz” (Hz) là đơn vị SI của tần số.

 

Jacques Curie (1856-1941) là nhà vật lí người Pháp và là giáo sư tại trường đại học Montpellier. Năm 1880, cùng với người anh trai Pierre Curie, ông đã khám phá ra hiện tượng áp điện. Chữ “piezo” (áp) phát sinh từ tiếng Hi Lạp nghĩa là “nhấn” và chỉ thực tế là những tinh thể nhất định, khi bị biến dạng cơ, sẽ phát sinh những điện tích trái dấu ở hai mặt ngược nhau. Điều ngược lại cũng sẽ xảy ra, tức là khi thiết đặt một điện tích cho tinh thể sẽ gây ra sự biến dạng.

Hai người anh em đã sử dụng hiệu ứng đó chế tạo một điện kế dùng để đo những dòng điện nhỏ.

Marie Curie sau này đã dùng thiết bị đó nghiên cứu xem bức xạ phát ra từ những chất khác ngoài uranium có gây ra sự dẫn điện trong không khí hay không.

(theo http://webs.hogent.be/~fjac284/en/)

 
Downlaod video thí nghiệm
Vui Lòng Đợi

Chúng tôi hiện có hơn 60 nghìn tài liệu để bạn tìm


Arena
Cầu vồng   |   Đăng nhập Đăng nhậpnew
Đang online (423)