Giai Nobel 2012
06:12:05 PM Ngày 04 Tháng Mười Hai, 2020 *

Chào mừng bạn đến với Diễn Đàn Vật Lý.

Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Hay bạn đã đăng ký nhưng cần gửi lại email kích hoạt tài khoản?
Vui lòng nhập tên Đăng nhập với password, và thời gian tự động thoát





Lưu ý: Đây là diễn đàn của Thư Viện Vật Lý. Tài khoản ở Diễn Đàn Vật Lý khác với tài khoản ở trang chủ Thuvienvatly.com. Nếu chưa có tài khoản ở diễn đàn, bạn vui lòng tạo một tài khoản (chỉ mất khoảng 1 phút!!). Cảm ơn các bạn.
Phòng chát chít
Bạn cần đăng nhập để tham gia thảo luận
Vật lý 360 Độ
Sao neutron to bao nhiêu?
18/09/2020
Giải chi tiết mã đề 219 môn Vật Lý đề thi TN THPT 2020 (đợt 2)
04/09/2020
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 96)
04/09/2020
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 95)
04/09/2020
Lực nâng từ tách biệt tế bào sống với tế bào chết
27/08/2020
LHC tạo ra vật chất từ ánh sáng
26/08/2020

follow TVVL Twitter Facebook Youtube Scirbd Rss Rss
  Trang chủ Diễn đàn Tìm kiếm Đăng nhập Đăng ký  


Quy định cần thiết


Chào mừng các bạn đến với diễn đàn Thư Viện Vật Lý
☞ THI THỬ THPT QG LẦN 9 MÔN VẬT LÝ 2020 - 21h00 NGÀY 2-8-2020 ☜

Trả lời

Ngày này năm xưa

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngày này năm xưa  (Đọc 122629 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #60 vào lúc: 10:52:31 AM Ngày 18 Tháng Tư, 2012 »

18/04/1911 - Ngày sinh nhà vật lí người Mĩ gốc Áo Maurice Goldhaber



Maurice Goldhaber (18/04/1911 – 11/05/2011) là nhà vật lí người Mĩ gốc Áo. Vào năm 1957, cùng với Lee Grodzins và Andrew Sunyar, ông đã chứng minh rằng neutrino có helicity.

Trong vật lí hạt cơ bản, helicity là hình chiếu của spin lên phương của xung lượng:



Năm 1934, tại Phòng thí nghiệm Cavendish ở Cambridge, Anh quốc, ông và James Chadwick, qua cái họ gọi là hiệu ứng quang điện hạt nhân, đã chứng minh rằng neutron có khối lượng lớn hơn proton để phân hủy.

Ông chuyển đến trường Đại học Illinois vào năm 1938. Vào thập niên 1940, cùng với vợ của mình, Gertrude Scharff-Goldhaber, ông đã chứng minh rằng các hạt beta là giống hệt với electron.

Ông tham gia Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven vào năm 1950. Cùng với Edward Teller, ông đã đề xuất cái gọi là "sự cộng hưởng hạt nhân lưỡng cực khổng lồ" do các neutron trong một hạt nhân dao động giống như một nhóm, còn các proton là một nhóm. (mô hình Goldhaber-Teller).

Ông có một vụ cá cược nổi tiếng với Hartland Snyder vào khoảng năm 1955 rằng các phản proton không thể tồn tại; khi thua cuộc, ông biện giải rằng lí do phản vật chất không xuất hiện dồi dào trong vũ trụ là vì trước Big Bang, một hạt độc thân, "universon" đã phân hủy thành "cosmon" và "phản cosmon", và sau đó cosmon phân hủy thành vũ trụ đã biết. Vào thập niên 1950, ông còn cho rằng toàn bộ các fermion như electron, proton và neutron, là "có cặp", nghĩa là mỗi hạt đi cùng với một hạt nặng hơn giống như vậy. Ông còn cho rằng trong cái sau này nổi tiếng là mô hình Goldhaber-Christie, cái gọi là những hạt lạ có cấu tạo gồm chỉ 3 hạt cơ bản. Ông là giám đốc của Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven từ năm 1961 đến 1973.

Goldhaber mất ngày 11 tháng 5, 2011 tại nhà riêng của ông ở East Setauket, New York, hưởng thọ đúng 100 tuổi.


Logged



Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #61 vào lúc: 08:13:57 AM Ngày 19 Tháng Tư, 2012 »

19/04/1971 – Liên Xô phóng Salyut 1, phòng thí nghiệm có người ở đầu tiên trên vũ trụ

Salyut 1 (DOS-1) (Tiếng Nga: Салют-1; Tiếng Anh: Salute 1) là trạm vũ trụ đầu tiên của nhân loại, do Liên Xô phóng lên quỹ đạo hôm 19 tháng 4, 1971. Nó được phóng không người lái trên một tên lửa Proton-K. Phi hành đoàn đầu tiên của nó đến muộn hơn trên tàu Soyuz 10, nhưng không thể tiến hành neo đậu hoàn toàn; phi hành đoàn thứ hai của nó bay trên tàu Soyuz 11 và vẫn ở trên tàu trong 23 ngày. Một cái van cân bằng áp suất trên tổ hợp đi vào khí quyển của tàu Soyuz 11 bị mở ra sớm khi phi hành đoàn quay về, làm 3 nhà du hành thiệt mạng. Sau tai nạn đó, các sứ mệnh tạm thời bị hoãn lại và Liên Xô đã cố tình cho trạm vũ trụ bốc cháy trong khí quyển sau tổng cộng 6 tháng trên quỹ đạo.



Salyut 1


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #62 vào lúc: 07:21:42 AM Ngày 20 Tháng Tư, 2012 »

20/04/1918 - Ngày sinh Kai Siegbahn, Giải Nobel Vật lí 1981

Kai Siegbahn, tên khai sinh là Kai Manne Börje Siegbahn (20.4.1918 – 20.7.2007) là nhà vật lý học người Thụy Điển đã đoạt giải Nobel Vật lý năm 1981.



Ông sinh tại Lund, Thụy Điển. Cha ông là Manne Siegbahn cũng đoạt giải Nobel Vật lý năm 1924. Siegbahn đậu bằng tiến sĩ ở Đại học Stockholm năm 1944 và làm giáo sư ở Học viện Công nghệ Hoàng gia Thụy Điển từ 1951-1954, sau đó làm giáo sư vật lý thực nghiệm ở Đại học Uppsala từ 1954-1984 - cùng một chức giáo sư như cha ông đã từng đảm nhận. Năm 1981 ông đoạt Giải Nobel Vật lý chung với Nicolaas Bloembergen và Arthur Schawlow cho công trình nghiên cứu Phổ học của họ.

Siegbahn đoạt giải này vì đã triển khai phương pháp Phổ học điện tử để phân tích Hóa học (ESCA), nay thường được mô tả như Phổ học quang điện tử bằng tia X (X-ray photoelectron spectroscopy, viết tắt là XPS). Vào thời điểm từ trần, ông vẫn hoạt động như nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm Ångström của Đại học Uppsala.

[Theo Wikipedia]


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #63 vào lúc: 08:18:47 AM Ngày 21 Tháng Tư, 2012 »

21/04/1994 – Nhà thiên văn học Alexander Wolszczan công bố khám phá ra những hành tinh đầu tiên ngoài hệ mặt trời



Xem các bài viết về hành tinh ngoài hệ mặt trời tại đây.




Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #64 vào lúc: 07:22:52 AM Ngày 22 Tháng Tư, 2012 »

22/04/1904 – Ngày sinh nhà vật lí người Mĩ J. Robert Oppenheimer



J. Robert Oppenheimer (22 tháng 4, 1904 – 18 tháng 2, 1967) là một nhà vật lý lý thuyết người Mỹ, được biết đến với vai trò giám đốc của Dự án Manhattan. Trong Chiến tranh Thế giới thứ II, mục đích của dự án đó là phát triển các loại vũ khí hạt nhân đầu tiên tại phòng thí nghiệm bí mật Los Alamos ở New Mexico. Được biết đến như là "cha đẻ của bom hạt nhân," Oppenheimer đã tỏ ra ân hận khi thấy sức giết người khủng khiếp của quả bom sau khi nó được sử dụng để phá hủy các thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản. Sau chiến tranh, ông là cố vấn chính cho Ủy ban năng lượng hạt nhân Hoa Kỳ vừa mới được thành lập, ông đã dùng vị trí này để vận động cho việc kiểm soát năng lượng nguyên tử trên toàn thế giới và tránh khỏi cuộc chạy đua hạt nhân với Liên Xô. Sau khi làm nổi giận nhiều chính trị gia và các nhà khoa học khác với các quan điểm chính trị của ông, ông đã bị tước quyền an ninh (quyền được biết nhiều bí mật quốc gia) trong một phiên điều trần chính trị vào năm 1954. Mặc dù bị tước mất quyền ảnh hưởng chính trị trực tiếp, Oppenheimer vẫn tiếp tục giảng dạy, viết, và làm việc trong ngành vật lý. Một thập kỉ sau, Tổng thống John F. Kennedy đã tặng thưởng ông Huy chương Enrico Fermi như là một dấu hiệu trả lại quyền chính trị. Như là một khoa học gia, Oppenheimer được nhớ tới như là người sáng lập ra trường phái vật lý lý thuyết khi ở tại Đại học California tại Berkeley.


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #65 vào lúc: 09:03:02 AM Ngày 23 Tháng Tư, 2012 »

23/04/1858 – Ngày sinh nhà vật lí Max Planck



Max Karl Ernst Ludwig Planck (23 tháng 4, 1858 – 4 tháng 10, 1947) là một nhà vật lí người Đức, được xem là người sáng lập cơ học lượng tử và do đó là một trong những nhà vật lí quan trọng nhất của thế kỷ 20.

Tên tuổi của ông gắn liền với một trong hằng số quan trọng nhất trong vật lí học hiện đại: hằng số Planck.

Ông có nhiều đóng góp cho sự phát triển của lĩnh vực nhiệt học, đặc biệt là sự khám phá ra định luật bức xạ vật đen.

Ông giành Giải Nobel Vật lí 1918 cho thành tựu lí thuyết đề xuất khái niệm lượng tử năng lượng E = h ν
(trong đó E là năng lượng của một lượng tử năng lượng; h là hằng số mang tên ông, ν là tần số của bức xạ)


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #66 vào lúc: 08:09:33 PM Ngày 23 Tháng Tư, 2012 »

24/04/1990 – Sứ mệnh STS-131, Tàu con thoi vũ trụ Discovery mang Kính thiên văn vũ trụ Hubble lên quỹ đạo



Kính thiên văn Hubble được nghiên cứu từ thập niên 1970 và phóng lên không gian năm 1990, đã tạo ra một bước đột phá quan trọng trong quan sát thiên văn trong phổ quang học, tử ngoại và hồng ngoại cho thời kỳ này, nhờ vào ưu điểm là quan sát các thiên thể mà không bị ảnh hưởng bởi khí quyển Trái Đất.

Nó có thể thu nhận ánh sáng từ vật thể cách xa 12 tỉ năm ánh sáng. Nó lần đầu tiên sử dụng công nghệ Multi-Anode Microchannel Array (MAMA) để ghi nhận tia tử ngoại nhưng loại trừ ánh sáng. Nó có sai số trong định hướng nhỏ tương đương với việc chiếu một tia laser đến đúng vào một đồng xu cách đó 320 km và giữ yên như thế.

Việc thiết kế kính này theo dạng mô-đun cho phép các phi hành gia tháo gỡ, thay thế hoặc sửa chữa từng mảng bộ phận dù họ không có chuyên môn sâu về các thiết bị. Trong một lần sửa, độ phân giải của Hubble đã được tăng lên gấp 10.

Hubble cung cấp khoảng 5-10 GB dữ liệu một ngày. Vài khám phá quan trọng do Hubble mang lại gồm có:

• Hình ảnh chi tiết của mọi loại tinh vân, đặc biệt là những tinh vân đang phát tán gần các thiên hà xoắn ốc;
• Hình ảnh những thiên hà đang va chạm nhau và những thiên hà quasar;
• Chứng cứ đầu tiên về sự hiện diện của lỗ đen;
• Vị trí chính xác những cơn bão bụi trên Sao Hỏa và thêm chi tiết về bầu khí quyển của hành tinh này;
• Chi tiết sự va đập của sao chổi Shoemaker-Levy 9 vào Sao Mộc;
• Chi tiết những cơn bão rộng hàng ngàn km trên Sao Thiên Vương;
• Xác định và tính toán sự giãn nở của vũ trụ

[Theo Wikipedia]


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #67 vào lúc: 08:53:56 AM Ngày 25 Tháng Tư, 2012 »

25/04/1954 – Bell Labs công bố sản phẩm pin mặt trời đầu tiên

Pin năng lượng mặt trời (hay pin quang điện, tế bào quang điện), là thiết bị bán dẫn chứa lượng lớn các diod p-n, duới sự hiện diện của ánh sáng mặt trời có khả năng tạo ra dòng điện sử dụng được. Sự chuyển đổi này gọi là hiệu ứng quang điện.

Các pin năng lượng mặt trời có nhiều ứng dụng. Chúng đặc biệt thích hợp cho các vùng mà điện năng trong mạng lưới chưa vươn tới, các vệ tinh quay xung quanh quỹ đạo trái đất, máy tính cầm tay, các máy điện thoại cầm tay từ xa, thiết bị bơm nước... Pin năng lượng mặt trời (tạo thành các module hay các tấm năng lượng mặt trời) xuất hiện trên nóc các tòa nhà nơi chúng có thể kết nối với bộ chuyển đổi của mạng lưới điện.



Một tế bào quang điện

Hiệu ứng quang điện được phát hiện đầu tiên năm 1839 bởi nhà vật lý Pháp Alexandre Edmond Becquerel. Tuy nhiên cho đến 1883 một pin năng lượng mới được tạo thành, bởi Charles Fritts, ông phủ lên mạch bán dẫn selen một lớp cực mỏng vàng để tạo nên mạch nối, thiết bị chỉ có hiệu suất 1%. Russell Ohl được xem là người tạo ra pin năng lượng mặt trời đầu tiên năm 1946. Sven Ason Berglund đã có phương pháp liên quan đến việc tăng khả năng cảm nhận ánh sáng của pin.

Tế bào quang điện hiện đại đầu tiên được Bell Labs phát triển vào năm 1954. Tế bào mặt trời hiệu suất cao lần đầu tiên được phát triển bởi Daryl Chapin, Calvin Souther Fuller và Gerald Pearson vào năm 1954 sử dụng một lớp tiếp xúc p-n silicon khuếch tán. Ban đầu, các tế bào chỉ được phát triển làm đồ chơi và những công dụng linh tinh khác, vì chi phí phát điện của chúng rất cao.


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #68 vào lúc: 07:06:53 AM Ngày 26 Tháng Tư, 2012 »

26/04/1514 - Copernicus tiến hành những quan sát đầu tiên của ông về Thổ tinh



Mời các bạn tải về tập sách nhỏ do TVVL thực hiện về Thổ tinh - hành tinh có vành xinh đẹp của hệ mặt trời chúng ta.

Hoặc đọc trực tuyến tại 360.thuvienvatly.com


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #69 vào lúc: 11:14:21 PM Ngày 26 Tháng Tư, 2012 »

27/04/1791 - Ngày sinh nhà phát minh Samuel Finley Breese Morse

Samuel Finley Breese Morse (27 tháng 4, 1791 – 2 tháng 4, 1872) là nhà phát minh người Mĩ có đóng góp cho sự ra đời của hệ thống điện báo một dây trên cơ sở máy điện báo của châu Âu, là nhà đồng phát minh ra mã Morse, và là một họa sĩ có tiếng.



Vào thập niên 1830, chàng sinh viên nghệ thuật người Mĩ Samuel Morse trở nên hứng thú với ý tưởng máy điện báo. Ông biết rõ nhu cầu cho một dụng cụ như vậy: Trong lúc đi ra nước ngoài, ông chỉ hay tin vợ ông mất sau vài tuần vì thực tế chẳng có cách nào đưa tin đến ông nhanh hơn được. Morse đã phát triển một nguyên mẫu của dụng cụ, cũng như một bộ mã đặc biệt biến đổi các kí tự thành các vạch và các chấm.



Nguyên mẫu máy điện báo của Samuel Morse


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #70 vào lúc: 07:24:16 PM Ngày 27 Tháng Tư, 2012 »

28/04/1900 – Ngày sinh nhà thiên văn học Jan Oort



Jan Hendrik Oort (Franeker, 28 tháng 4, 1900 – Leiden, 5 tháng 11, 1992) là nhà thiên văn học người Hà Lan. Ông là một nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực thiên văn học vô tuyến. Đám mây Oort – nơi ra đời của các sao chổi – mang tên của ông.


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #71 vào lúc: 06:50:12 PM Ngày 28 Tháng Tư, 2012 »

29/04/1854 – Ngày sinh Henri Poincaré

Jules Henri Poincaré ( 29/04/1854 - 17/06/1912) là một nhà toán học, nhà vật lí lí thuyết, và là một triết gia người Pháp. Ông là một người đa tài và được coi là người có tầm hiểu biết sâu rộng các lĩnh vực khoa học như trong toán học chẳng hạn.



Là một nhà toán học và vật lí, ông đã có rất nhiều đóng góp căn bản cho toán học thuần túy, toán học ứng dụng, vật lí toán, và cơ học thiên thể.Ông cũng là người đặt ra bài toán nổi tiếng giả thuyết Poincaré trong toán học. Khi nghiên cứu về bài toán ba vật thể, ông là người đầu tiên khám phá ra Hệ có tính tất định hỗn độn, sau này là cơ sở cho lí thuyết hỗn độn hiện đại(Chaos Theory). Ông được coi là một trong những cha đẻ của tô pô học.

Poincaré đã đưa ra nguyên lí Tương đối hiện đại, và lần đầu tiên ông đã biểu diễn các phép biến đổi Lorentz theo dạng đối xứng hiện đại của chúng. Poincaré đã phát hiện ra các phép biến đổi vận tốc vẫn còn đúng trong phạm vi tương đối tính, và đã gửi điều này trong một lá thư tới Hendrik Lorentz vào năm 1905. Dựa vào điều này, ông đã rút ra được tính bất biến của các phương trình Maxwell trong lí thuyết tương đối đặc biệt - một bước quan trọng trong việc xây dụng lí thuyết này.

Nhóm Poincaré sử dụng trong toán học và vật lí được đặt theo tên của ông.
« Sửa lần cuối: 06:52:04 PM Ngày 28 Tháng Tư, 2012 gửi bởi Trần Nghiêm »

Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #72 vào lúc: 11:07:15 PM Ngày 29 Tháng Tư, 2012 »

30/04/1777 – Ngày sinh nhà toán học, nhà khoa học Carl Friedrich Gauss





Carl Friedrich Gauß (được viết phổ biến hơn với tên Carl Friedrich Gauss; 30 tháng 4, 1777 – 23 tháng 2, 1855) là một nhà toán học và nhà khoa học người Đức tài năng, người đã có nhiều đóng góp lớn cho các lĩnh vực khoa học, như lí thuyết số, giải tích, hình học vi phân, khoa trắc địa, từ học, thiên văn học và quang học. Được mệnh danh là "hoàng tử của các nhà toán học", với ảnh hưởng sâu sắc cho sự phát triển của toán học và khoa học, Gauss được xếp ngang hàng cùng Leonhard Euler, Isaac Newton và Archimedes như là những nhà toán học vĩ đại nhất của lịch sử.

Từ lúc nhỏ tuổi, Gauss đã thể hiện mình là một thần đồng, để lại nhiều giai thoại, trong đó có nhắc đến những phát kiến đột phá về toán học ngay ở tuổi thiếu niên. Ông đã hoàn thành quyển Disquisitiones Arithmeticae, vào năm 24 tuổi. Công trình này đã tổng kết lí thuyết số và hình thành lĩnh vực nghiên cứu này như một ngành toán học mà ta thấy ngày nay.


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #73 vào lúc: 11:30:22 PM Ngày 30 Tháng Tư, 2012 »

01/05/1006 – Người Trung Quốc và người Hi Lạp quan sát sao siêu mới trong chòm sao Lupus



Sao siêu mới Kepler, SN 1604

Sao siêu mới, hay siêu tân tinh, là một số loại vụ nổ của sao tạo nên các vật thể rất sáng chủ yếu gồm plasma bùng lên trong một thời gian ngắn, cấp sao biểu kiến tăng lên đột ngột hàng tỉ lần, rồi giảm dần trong vài tuần hay vài tháng. Tổng năng lượng thoát ra đạt tới 1044J. Cấp sao tuyệt đối có thể đạt đến -20m.

Có hai kiểu nổ. Trong kiểu thứ nhất, các sao khổng lồ cháy hết nhiên liệu nhiệt hạch, mất áp suất ánh sáng, và sụp đổ vào tâm dưới trọng trường của chính nó, cho đến lúc mật độ và áp suất tăng cao gây nên bùng nổ. Trong kiểu thứ hai, các sao lùn trắng hút lấy vật chất từ một sao bay quanh nó, cho đến khi đạt được khối lượng Chandrasekhar và bùng nổ nhiệt hạch. Trong cả hai kiểu này, một lượng lớn vật chất của sao bị đẩy bật ra không gian xung quanh.

Kiểu nổ thứ nhất kết thúc một quá trình sống của một ngôi sao, kết quả có thể là nhân ngôi sao trở thành sao lùn trắng, sao neutron (pulsar, sao từ, sao hyperon hay sao quark...) hay hố đen tùy thuộc chủ yếu vào khối lượng ngôi sao. Các vật chất lớp vỏ sao bị bắn vào khoảng không giữa các vì sao trở thành tàn tích sao siêu mới.

Xem những bài viết về sao siêu mới tại 360.thuvienvatly.com


Logged

Mệt rồi, bế quan
Trần Nghiêm
Administrator
Lão làng
*****

Nhận xét: +9/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 58
-Được cảm ơn: 47

Offline Offline

Giới tính: Nam
Bài viết: 622


hkqam3639
Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #74 vào lúc: 07:56:47 AM Ngày 02 Tháng Năm, 2012 »

02/05/1780 - William Herschel phát hiện sao đôi đầu tiên, Xi Ursae Majoris

Một sao đôi được tạo thành từ một hệ thống gồm hai ngôi sao chuyển động trên quỹ đạo của khối tâm hai ngôi sao. Đối với mỗi ngôi sao, sao kia là "bạn đồng hành" của nó. Các nghiên cứu ngày nay đã chỉ ra rằng có một lượng lớn ngôi sao trong những hệ thống khác nhau là có ít nhất hai ngôi sao. Sao đôi rất quan trọng trong vật lý thiên văn, bởi vì việc quan sát quỹ đạo của chúng sẽ giúp cho việc xác định khối lượng của chúng. Khối lượng của nhiều ngôi sao đơn sẽ được xác định bằng cách ngoại suy từ những sao đôi.



Sao đôi không tương tự như sao đôi quang học, vốn có vẻ gần nhau khi được quan sát từ Trái Đất, nhưng có thể không ràng buộc với nhau bằng lực hấp dẫn. Các sao đôi vừa có thể được nhận ra bằng quang học (sao đôi thị giác), hoặc gián tiếp bằng các thiết bị kỹ thuật như là quang phổ kế, sao đôi quang phổ. Nếu sao đôi chuyển động trên mặt phẳng song song với phương quan sát, chúng sẽ che khuất nhau; trường hợp này được gọi là các sao đôi che nhau.

Những hệ gồm nhiều hơn hai thành viên, được gọi là các đa sao, cũng không phải là hiếm và thường cũng được xếp hạng bằng cùng cái tên đó. Các thành viên trong các hệ sao đôi có thể trao đổi khối lượng, đưa quy trình tiến hóa của chúng tới những giai đoạn mà những ngôi sao đơn không thể đạt được. Những ví dụ về các hệ sao đôi gồm Algol (một hệ sao đôi che nhau), Sirius, và Cygnus X-1 (một thành viên của hệ này có thể là một hố đen).


Logged

Mệt rồi, bế quan
Tags:
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
sch

Những bài viết mới nhất
Những bài viết mới nhất
 
Chuyển tới:  


Tắt bộ gõ tiếng Việt [F12] Bỏ dấu tự động [F9] TELEX VNI VIQR VIQR* kiểm tra chính tả Đặt dấu âm cuối
Powered by SMF 1.1.11 | SMF © 2006, Simple Machines LLC © 2006 - 2012 Thư Viện Vật Lý.