Giai Nobel 2012
01:12:05 AM Ngày 25 Tháng Tám, 2019 *

Chào mừng bạn đến với Diễn Đàn Vật Lý.

Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Hay bạn đã đăng ký nhưng cần gửi lại email kích hoạt tài khoản?
Vui lòng nhập tên Đăng nhập với password, và thời gian tự động thoát





Lưu ý: Đây là diễn đàn của Thư Viện Vật Lý. Tài khoản ở Diễn Đàn Vật Lý khác với tài khoản ở trang chủ Thuvienvatly.com. Nếu chưa có tài khoản ở diễn đàn, bạn vui lòng tạo một tài khoản (chỉ mất khoảng 1 phút!!). Cảm ơn các bạn.
Phòng chát chít
Bạn cần đăng nhập để tham gia thảo luận
Vật lý 360 Độ
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 74)
22/08/2019
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 73)
22/08/2019
Bảng tuần hoàn hóa học tốc hành (Phần 56)
22/08/2019
Bảng tuần hoàn hóa học tốc hành (Phần 55)
22/08/2019
Tương lai nhân loại - Michio Kaku (Phần 18)
22/08/2019
Tương lai nhân loại - Michio Kaku (Phần 17)
22/08/2019

follow TVVL Twitter Facebook Youtube Scirbd Rss Rss
  Trang chủ Diễn đàn Tìm kiếm Đăng nhập Đăng ký  


Quy định cần thiết


Chào mừng các bạn đến với diễn đàn Thư Viện Vật Lý
☞ THI THỬ THPT QG LẦN 8 MÔN VẬT LÝ 2019 - 21h00 NGÀY 9-6-2019 ☜

Trả lời

Tóm lược THUYẾT TUYỆT ĐỐI

Trang: « 1 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tóm lược THUYẾT TUYỆT ĐỐI  (Đọc 1846 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #30 vào lúc: 09:54:20 PM Ngày 21 Tháng Năm, 2019 »

     Nội dung đã pos:

          3. Mật độ năng lượng, mật độ vật chất trong không gian. Công thức năng lượng của một khối lượng vật chất
          4. Lực tác dụng lên hạt vật chất trong không gian
               a. Lực hấp dẫn
               b. Lực Archimed
               c. Tổng lực tác dụng vào hạt vật chất trong không gian
          5. Trường khí âm dương xung quanh một hạt vật chất
               a. Hệ số co giãn không thời gian xung quanh một hạt vật chất
               b. Lực tác dụng vào một khối lượng dạng chất điểm trong không gian quanh một hạt vật chất
                    Lực hấp dẫn hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
                    Lực Archimed hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
                    Tổng lực hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm


    Bình luận 2
          1. Chúng ta đã chỉ ra rằng, Tiên đề về vận tốc ánh sáng của Einstein chỉ là một hệ quả logic trong lý thuyết tuyệt đối và chỉ đúng trong HQC-ζ địa phương, xuất phát từ tính đàn hồi của vật chất. Chúng ta lại đưa ra một Tiên đề về Áp lực hấp dẫn lên một hạt vật chất phải tỷ lệ với hệ số co giãn không thời gian môi trường ζ và mật độ trường khí âm dương trong bản thân hạt vật chất ρm
                    pm = Kρmζ
            Tuy nhiên, Tiên đề này được phân tích tính logic của nó, do Khí dương tạo nên chứ không phải là một kết luận bất ngờ như “từ trên Trời rơi xuống”. Bản chất của nó là khẳng định sự phụ thuộc tuyến tính của áp lực p vào cường độ Khí dương.
          2. Việc đưa hệ số co giãn không thời gian ζ vào khi khảo sát vật lý, qua một số tính toán đơn giản, ta tính được mật độ vật chất phân bố trong không gian tương ứng với các hệ số ζ khác nhau, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đánh giá vai trò của hệ số này trong nghiên cứu vật lý. Nó chứng minh được sự liên quan hữu cơ giữa vật chất và không thời gian. Cứ nơi nào có không gian, nơi đó có mật độ khối lượng vật chất tương ứng với độ co dãn ζ nào đó. Nó cho công thức tính chính xác mật độ khối lượng vật chất trong không gian, kể cả cái thường được gọi là chân không.
                    ρ = ρmax.τ.e(1- τ)
          Công thức này là cơ sở cho những tính toán định lượng của các quá trình vật lý trong thuyết tuyệt đối:
               - Từ công thức tính mật độ vật chất tùy thuộc vào ζ, ta thấy sự tồn tại của giá trị mật độ vật chất lớn nhất ρmax, tương ứng với ζmax để xác định sự khác nhau giữa hạt vật chất có hệ số co giãn không thời gian  ζmax, mật độ ρmax với không gian vật chất có hệ số co dãn không thời gian ζ, mật độ ρ.
               
               - Công thức quan hệ mật độ trường khí âm dương với độ co giãn không thời gian ζ có 2 pha: một pha mật độ trường khí âm dương tăng từ vô cùng nhỏ tới cực đại, sau đến một pha giảm xuống tới vô cùng nhỏ cho ta khả năng giải thích sự hình thành và phát triển của Vũ trụ một cách định lượng sau khi đã mô tả một cách định tính ở chương trước như sau:
               - Qua đồ thị trên chúng ta thấy, khi Vũ trụ mới nảy sinh do một đột  biến lượng tử cực kỳ nhỏ bé từ Thái cực, thành một vi phân trường khí âm dương gồm “Khí” trong vi phân không gian cực nhỏ, thời gian trôi vô cùng chậm chạp. Sự trôi chậm chạp của thời gian chứng tỏ hệ số ζ cực lớn (dtζ = dt/ζ) hay τ = Q/ζ cực nhỏ. Theo công thức mật độ trường khí âm dương ở trên ta thấy, lúc này, mật độ vật chất ρ của Vũ trụ cũng rất nhỏ, và kết quả là Vũ trụ khởi nguyên cực kỳ nhỏ cả về kích thước cũng như khối lượng.
               - Theo qui luật tương quan âm/dương luôn tăng, nên theo thời gian, ζ giảm dần (hay τ tăng dần) làm cho mật độ vật chất ρ tăng lên tới ρmax theo phương trình:
                    ρ = ρmax.τ.e(1- τ)
                Đó là thời kỳ Tiên thiên Vũ trụ. Thời kỳ này quan hệ Tam tài đồng tương sinh, âm dương thống nhất nên mật độ ρ của trường khí âm dương trong Vũ trụ Tiên thiên rất đồng nhất và tốc độ tăng trưởng cao.
               - Khi ρ tăng tới giá trị ρ = ρmax, tương quan âm dương tiếp tục tăng, ζ tiếp tục giảm (τ tăng), thời gian tiếp tục trôi về phía trước, nhưng mật độ ρ bắt đầu giảm. Nhưng do tác động của khí dương bảo toàn trạng thái hiện tại nên sự giảm của mật độ ρ không được diễn ra một cách từ từ tại mọi vị trí mà như một sự tan vỡ khối Tiên thiên Vũ trụ, bắt đầu từ những “vết nứt” xuất hiện ngẫu nhiên khi ζ giảm, thành những mảnh to nhỏ khác nhau, có mật độ như trong khối Tiên thiên ρ = ρmax và không gian giữa chúng có mật độ thấp hơn. Những mảnh vỡ đó tiếp tục va chạm và tương tác hình thành Vũ trụ Hậu thiên ngày nay như ta thấy. Những mảnh nhỏ tạo thành những hạt vật chất vi mô, những mảnh lớn tạo thành những hố đen Vũ trụ. Đặc điểm chung của những mảnh vỡ đó là mật độ trường khí âm dương cực đại ρ = ρmax  và độ co giãn không thời gian ζ = ζmax = Q.
               - Tương quan âm/dương tiếp tục tăng làm cho ζ giảm (τ tăng) dẫn đến sự giảm dần của mật độ ρ, và tăng dần kích thước Vũ trụ, nói cách khác, Vũ trụ tiếp tục nở ra. Nhưng, trong quá trình đó, mật độ trường khí âm dương bên trong những “mảnh vỡ” không giảm đi do tác động bảo toàn của Khí dương, mà chỉ giảm ở vùng ngoại biên do tương quan âm/dương lớn hơn, làm cho những “mảnh vỡ” đó giảm dần kích thước cho tới khi biến mất.
               - Mật độ ρ tiếp tục giảm, đến một lúc nào đó sẽ vô cùng nhỏ bé trong toàn Vũ trụ, hay trường khí âm dương mờ nhạt dần rồi mất hẳn và đương nhiên, không thời gian với tư cách là một yếu tố không thể tách rời của trường khí âm dương cũng dần dần tiêu biến theo. Vũ trụ trở về trạng thái Thái cực và một quá trình mới lại bắt đầu với một đột biến lượng tử nào đó từ Thái cực, sinh ra một đốm trường khí âm dương mới dần phát triển thành một Vũ trụ mới. Do đột biến lượng tử là một hiện tượng ngẫu nhiên, nên Vũ trụ mới đó không nhất thiết giống như Vũ trụ chu kỳ trước, nhưng nguyên lý hình thành và phát triển của chúng như mô tả ở trên, vẫn như nhau.
          3. Qua công thức xác định áp suất p trong trường khí âm dương mới tìm được, chúng ta cũng thấy tính tịnh của khí dương thể hiện ra như một áp lực nội tại chống phân tán trong của trường khí âm dương. Áp lực đó cũng chính là mật độ năng lượng của trường khí âm dương trong không thời gian mà nó hiện hữu.
                p = pmaxe(1- τ)
          Ở đây, chúng ta đã đưa ra công thức phân bố khối lượng và năng lượng của trường khí âm dương trong không thời gian theo ζ hoặc τ. Ta đã chứng minh được, năng lượng tiềm tàng của một khối lượng vật chất không chỉ tỷ lệ thuận với khối lượng m mà còn tỷ lệ nghịch với độ co giãn không thời gian τ của nó:
               E = mc2
          Đối với hạt vật chất, τ = 1 nên công thức trở thành E = mc2 là công thức nổi tiếng của Einstein. Như vậy, công thức E = mc2 của Einstein chỉ là trường hợp riêng của chúng ta khi τ = 1.
               Nếu để ý rằng, công thức này của Einstein được đưa ra như một đề xuất, mà cho tới nay sự chứng minh công thức này một cách rốt ráo cũng còn nhiều vấn đề phải bàn, thì mới thấy ý nghĩa của việc ta không chỉ chứng minh được một công thức tổng quát hơn công thức của Einstein mà còn chỉ ra bản chất của năng lượng này là khả năng biến đổi của trường khí âm dương như đã phân tích ở chương I. Không thể có chuyện khối lượng và năng lượng có thể chuyển hóa cho nhau như một số nhà khoa học đề xuất, mà chỉ có thể nói, năng lượng có thể làm “gom” một khối lượng Khí đủ lớn vốn có trong không gian để ζ = ζmax = Q, tạo thành một hạt vật chất, chứ không phải bản thân năng lượng đó biến thành khối lượng hạt vật chất đó.
               Mặt khác, “Khí” tràn ngập khắp nơi trong Vũ trụ. Cái gọi là “chân không tuyệt đối” của chúng ta cũng là tràn đầy Khí với độ co giãn không thời gian ζ = 1 (do ta lấy vị trí của ta làm cơ sở HQC-ζ tuyệt đối). Do đó, mật độ vật chất của nó là ρ = ρ0 = Qρmax/eQ-1 , áp suất và mật độ năng lượng là p = p0 =c2ρmax/eQ-1 = pmax/eQ-1. Do Q khá lớn nên ρ0, p0 rất nhỏ làm chúng ta không cảm giác được sự hiện diện của nó. Tuy ta không cảm nhận được nhưng “nó” vẫn hiện diện có và còn thể hiện những hiệu ứng cho thấy sự tồn tại của mình.
               4. Mục này tính toán và giải thích rõ ràng nguồn gốc và công thức tính lực hấp dẫn là xu thế do khí dương với “tính tịnh” sinh ra, thể hiện qua sự phân bố không đều của độ co giãn không thời gian, đồng thời còn bổ sung một lực hoàn toàn mới đối với khoa học hiện đại, đó là lực Archimed trong không gian. Lực này, trong điều kiện bình thường nói chung rất nhỏ nên bị bỏ qua. Nhưng tại những vị trí có độ co giãn không thời gian lớn, nó rất đáng kể và khi τ < τ* = 3.5128, nó còn lớn hơn lực hấp dẫn. Sự hiện diện của lực Archimedes làm ảnh hưởng lớn tới tổng lực tác dụng lên một hạt vật chất trong không gian tạo nên tình thế các hạt vật chất hút nhau ở khoảng cách lớn khi lực hấp dẫn lớn hơn lực Archimed, nhưng đẩy nhau rất mạnh ở khoảnh cách nhỏ khi lực Archimedes lớn hơn lực hấp dẫn. Công thức và đồ thị tổng lực tác dụng vào hạt vật chất trong không gian thể hiện rõ điều đó. Chính lực đẩy Archimed này là nguyên nhân làm cho các hạt vật chất không bị rơi vào nhau, đồng thời là lực giúp cho Vũ trụ chiến thắng lực hấp dẫn và nở ra mãi mãi.
                Sau hhi đưa ra khái niệm độ co giãn không thời gian, chúng ta đã tính toán và mô tả khá rõ độ co dãn không-thời gian xung quanh một hạt vật chất. Khi ta đưa tay tới một vật thể nào đó, ở khoảng cách còn xa, lực đẩy Archimed hầu như không xuất hiện, có chăng chỉ là lực hút rất nhỏ nào đó, thậm chí ta không cảm giác thấy. Khi ta chạm tay vào vật thể, điều đó có nghĩa là, khoảng cách giữa phần tử hạt vật chất  ngoài cùng của vật thể và tay ta giảm xuống còn rất nhỏ, lực Archimedes trở nên lớn hơn lực hấp dẫn, đẩy vào tay ta. Nếu không có lực này, tay ta “xuyên qua” vật thể mà không bị cản trở nào. Lực đẩy vào tay ta tác động lên các giác quan, làm ta nhận biết tiếp xúc về hình dáng, kích thước của vật. Như vậy, lực Archimed khi lớn hơn lực hút (hấp dẫn) chính là cơ sở cho chúng ta cảm giác và nhận thức về hình dáng, kích thước vật thể trong tiếp xúc. Một vật thể trở nên hữu hình hay vô hình trong tiếp xúc chính là do lực Archimed quyết định. Đó là lý do mà “linh hồn”- một trường khí âm dương thứ cấp có ζ nhỏ - có thể dễ dàng xuyên qua một bức tường, do lực Archimed quá nhỏ.





Logged


TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #31 vào lúc: 10:25:27 PM Ngày 23 Tháng Năm, 2019 »

     Nội dung đã pos:

    6. Chuyển động của hạt vật chất
          6.1. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tuyệt đối
          6.2. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối
              6.2.a. Không gian được bảo toàn trong HQC-ζ tương đối
               6.2.b. Hệ số co dãn thời gian γt trong HQC-ζ tương đối
               6.2.c. Sơ đồ, tính toán vận tốc chuyển động trong các HQC
               6.2.d. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối
               6.2.e. Chuyển đổi tọa độ trong HQC-ζ tương đối


     Bình luận 3
          1. Chúng ta, lần đầu tiên, đã tiến hành xác định ý nghĩa một số đại lượng vật lý như: vận tốc thể hiện tính âm, động lượng thể hiện cường độ tính âm, lực thể hiện xu thế vận động, công thể hiện mức độ đáp ứng cho xu thế vận động, mang lại ý nghĩa triết học cho các đại lượng vật lý đó. Khi nắm vững những ý nghĩa triết học đó, chúng ta hiểu các quá trình vật lý một cách sâu sắc hơn, đi vào bản chất của khái niệm. Chú ý rằng, các công thức đó chỉ tính cho HQC-ζ tuyệt đối, đối với HQC tương đối sẽ có sai khác.
          2. Khi nghiên cứu chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tuyệt đối, công thức năng lượng trong chuyển động của hạt vật chất chỉ rõ: Trong HQC-ζ tuyệt đối, hạt vật chất không thể chuyển động với vận tốc lớn hơn c/ζ2, hay, vận tốc tới hạn trong chuyển động của hạt vật chất tại vị trí có độ co dãn không thời gian ζ là c/ζ2. Nói cách khác, vận tốc tới hạn trong mọi HQC, chính là vận tốc truyền sóng không gian của trường khí âm dương trong HQC đó.
               Trong trường hợp ζ = 1, tức là trong HQC địa phương, thì vận tốc tới hạn là c/ζ2 = c. Do đó, tiên đề “Tốc độ ánh sáng trong chân không có độ lớn bằng c trong mọi hệ quy chiếu quán tính” của Albert Einstein, trong hệ thống HQC-ζ của chúng ta phải đổi thành: “Tốc độ ánh sáng trong không gian có độ lớn bằng c đối với mọi hệ quy chiếu địa phương”. Nhưng ta cũng lưu ý rằng, trong lý thuyết mà ta đang xây dựng, hoàn toàn không sử dụng tiên đề này, mà nó chỉ như một hệ quả được suy ra mà thôi.
          3. Khi nghiên cứu chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối cho thấy nhiều khác biệt với những kết quả của thuyết tương đối.



Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #32 vào lúc: 11:11:22 PM Ngày 25 Tháng Năm, 2019 »

     Nội dung đã pos:

          7. Lưỡng tính sóng hạt của một hạt vật chất
              a. Động lượng, khối lượng, năng lượng thực theo phương và chiều của hạt vật chất chuyển động
               b. Lưỡng tính sóng hạt của một hạt vật chất – Tiên đề 2
               c. Phương trình vi phân sóng năng lượng của hạt vật chất chuyển động


    Bình luận 4
          1. Chúng ta lần đầu tiên tính toán và giải thích rõ bản chất sóng hạt của hạt vật chất có nguyên nhân là động tính của Khí âm. Tần số dao động f của tính sóng chính là sự biến thiên theo thời gian của độ co giãn thời gian γt , phải tỷ lệ với nguyên nhân sinh ra nó là động lượng trường khí âm dương đã nghiên cứu ở trên thể hiện qua Tiên đề 2 của khảo cứu:
Tiên đề 2: Tần số giao động hệ số co dãn thời gian trường khí âm dương f tỷ lệ với động lượng đã gây nên nó.
            f =pc/h = Eđ/h
          Nhà khoa học Pháp thế kỷ 19 Louis de Broglie là người đầu tiên trên Thế giới dự cảm được tính sóng của hạt vật chất. Tuy nhiên, ông không biết được nguyên nhân sâu xa của tính sóng đó là do động tính của Khí âm trong trường khí âm dương, do đó, tần số của sóng, thông số đặc trưng cho biến động về thời gian cùa trường khí âm dương, phải tỷ lệ với động lượng, nguyên nhân gây nên tần số đó. Vì thế, ông đề xuất bước sóng tỷ lệ nghịch với động lượng dựa trên sự qui nạp sóng ánh sáng tương đối máy móc, theo phương trình:
            λ = h/p => λ = v/f = h/p => f = pv/h
          Như vậy, tần số sóng, theo Broglie, tỷ lệ với pv.
          Trong khi đó, do biết rõ nguyên nhân sinh ra tính sóng của hạt vật chất, chúng ta biết tần số phải tỷ lệ với động lượng p, và tính theo công thức:
          f  ~ p => f = Eđ/h => λ = v/f = vh/Eđ =vh/pc = βh/p
          Suy ra   λ = βh/p
          Như vậy, bước sóng của hạt vật chất chuyển động theo tính toán của chúng ta và đề xuất của De Broglie chênh nhau β lần, tần số cũng có sai biệt β lần. Chỉ có thực nghiệm mới phân định đúng sai được giữa đề xuất của De Broglie và tính toán của chúng ta. Tuy nhiên, khi β lớn, xấp xỉ 1 trong các thí nghiệm sẽ rất khó phân biệt.
          Đối với hạt vật chất chuyển động, tính sóng thể hiện qua đồ thị năng lượng như sau
         
          Đây là lần đầu tiên trong khoa học mô tả được phương trình năng lượng sóng của hạt vật chất.
          2. Chúng ta đã xây dựng nên phương pháp tính toán hàm sóng năng lượng của hạt vật chất chuyển động trong trường thế thông qua hàm trung gian ϕ với phương trình, tuy hơi khác, nhưng vai trò và kết quả gần giống như phương trình Schrödinger trong cơ học lượng tử, nhưng không phải là một tiên đề mà là một hệ quả logic khoa học. Kết quả tính toán của chúng ta cho ra năng lượng của sóng hạt vật chất chuyển động chứ không đơn thuần là xác suất xuất hiện của hạt trong không gian.
          Như vậy, chúng ta đã giải thích rất rõ ràng nguyên nhân, cơ chế cũng như biểu hiện của lưỡng tính sóng hạt của hạt vật chất, một khái niệm khó hình dung và còn chưa minh bạch trong khoa học hiện đại. Rõ ràng, theo phương trình sóng vật chất đã xây dựng, sóng năng lượng hạt vật chất không phải hình sin chính xác. Thực chất Vũ trụ của ta đang sống đều mang bản chất sóng, kể cả những hạt vật chất đứng yên thông qua sự rung lắc quanh vị trí cân bằng. Đó là sự thể hiện thuộc tính của Khí âm trong trường khí âm dương.
          3. Áp dụng những kết quả tính toán trên, chúng ta đã giải thích một cách rõ ràng cơ chế hiệu ứng “đường hầm” trong cơ học lượng tử mà khoa học ngày nay ghi nhận nhưng giải thích một cách không minh bạch và “thần bí”.




Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #33 vào lúc: 08:28:13 PM Ngày 28 Tháng Năm, 2019 »

     Nội dung đã pos:

    8. Tính bất định của thế giới vật chất
          a. Động tính của không thời gian
          b. Tính bất định của thế giới vật chất

     9. Nhiệt độ không gian


     Bình luận 5
          1. Như đã thấy, do khí dương, trường khí âm dương là một môi trường đàn hồi, thì ở đây ta cũng thấy, do khí âm, trường khí âm dương là một môi trường dao động.
          Do động tính của Khí âm, nên trong trường khí âm dương xuất hiện một nội động lượng mật độ σ làm cho mọi hạt vật chất trong không gian đều không thể đứng yên mà phải dao động, rung lắc quanh vị trí cân bằng, tạo nên tính bất định về vị trí của một hạt vật chất trong không gian. Động lượng rung lắc đó có thể đạt tới giá trị lớn nhất là mc. Không chỉ bản thân không gian giao động mà ngay cả thời gian cũng giao động thông qua hệ số co giãn thời gian. Vì thế, về nguyên tắc, vị trí trong không gian, thời gian của một đối tượng vật lý bất kỳ là đại lượng bất định, không thể xác định chính xác tuyệt đối. Tính bất định này thuộc về bản chất nội tại của vật chất không thể khắc phục
          Đó chính là bản chất nguyên lý bất định của không-thời gian.
          2. Chúng ta đã chỉ rõ tính bất định của thế giới vật chất, cả vĩ mô lẫn vi mô, là một thuộc tính phổ biến, có nguyên nhân là sự thể hiện động tính của Khí âm làm biến thiên hệ số co giãn không-thời gian γL  và γt dẫn đến sự dao động quanh vị trí cân bằng của một hạt vật chất. Do tính bất định này, người ta, về nguyên tắc, không bao giờ có thể xác định chính xác được vị trí cũng như động lượng,hay bất cứ một đại lượng vật lý có thứ nguyên nào của một hạt vật chất.
          Công thức p = mce- δ   xác định sự phụ thuộc động lượng p tối thiểu cần dùng để có thể khống chế hay đo đạc vị trí của một hạt vật chất với độ chính xác δ = (R – R0)/Δm nào đó, có ý nghĩa giống như hệ thức bất định Heisenberg trong cơ học lượng tử. Tuy nhiên, đây là công thức chính xác chứ không phải dưới dạng bất đẳng thức ∆p.∆x ≥ h   như của Heisenberg.
          Như vậy,“động tính” của Khí âm trong trường khí âm dương, làm hệ số co giãn không, thời gian γL, γt dao động quanh giá trị trung bình, là nguyên nhân gây nên tính bất định và là bản chất tính sóng hạt trong thế giới vật chất.
          3. Căn cứ vào động tính của không thời gian, luôn rung lắc các hạt vật chất nằm trong nó, ta đã xác định được bản chất của độ không tuyệt đối chính là nhiệt độ của không gian và chỉ ra rằng, nhiệt độ không gian tùy thuộc vào độ co giãn không thời gian ζ và -273oC không phải nhiệt độ nhỏ nhất, ở những nơi có độ co giãn không thời gian ζ nhỏ hơn thì độ không tuyệt đối nhỏ hơn.


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #34 vào lúc: 09:34:08 PM Ngày 31 Tháng Năm, 2019 »

     Nội dung đã pos:

     PHẦN II
          1. Sự hình thành và phát triền của Vũ trụ
          2. Hệ số suy giảm độ co giãn không thời gian H
          3. HQC-ζ tự nhiên. Biến thiên của đại lượng vật lý theo thời gian. Hằng số Hubble H.
          4. Công thức biến đổi độ co giãn không thời gian ζ, τ theo thời gian. Sự suy giảm khối lượng theo thời gian.
          5. Chuyển động của hạt vật chất trong không gian dưới tác động của một lực
               a. Chuyển động tự do của hạt vật chất trong không gian dưới tác động của một lực
               b. Chuyển động tự do của hạt vật chất trong trường co giãn không thời gian theo phương lực hấp dẫn

          6. Thế năng trong không thời gian Vũ trụ
          7. Lỗ đen Vũ trụ
              a. Lực quán tính trong Thuyết Tuyệt đối
               b. Lỗ đen Vũ trụ


     Bình luận 6

          1. Ta phát hiện sự suy giảm của hệ số co giãn không thời gian ζ và chỉ ra quan hệ giữa thời gian và hệ số co dãn không thời gian τ theo phương trình:
          H = dτ/(τdt) = - dζ/(ζdt) hay  τ = τ0eHt , ζ = ζ0e-Ht
          Chính sự suy giảm hệ số co dãn không thời gian ζ là hệ quả của nguyên lý tương quan âm/dương luôn tăng và là nguyên nhân nở ra của Vũ trụ. Sự nở ra của Vũ trụ làm xuất hiện khái nhiệm Hệ qui chiếu tự nhiên cho các hệ qui chiếu cũng trôi theo sự nở ra đó.
          Nghiên cứu về hệ qui chiếu tự nhiên này chúng ta thấy rắng, hằng số Hubble chính là hằng số đặc trưng cho sự suy giảm hệ số không thời gian ζ và τ, do đó, có thể kết luận, không phải Edwin Powell Hubble đã quan sát thấy sự nở ra của Vũ trụ mà chính là quan sát thấy sự suy giảm của hệ số co giãn không thời gian theo phương trình:
          H = dτ/(τdt) = - dζ/(ζdt) 
          Từ đây ta có thể hiểu, tại sao nguyên lý tương quan âm/dương luôn tăng lại là cơ sở cho sụ trôi của không gian và tại sao mũi tên thời gian lại chỉ có một chiều.
          2. Sự suy giảm hệ số co giãn không thời gian là hiện tượng tự nhiên, phổ quát, phản ánh nguyên lý tương quan âm/dương luôn tăng trong sự vận động và phát triển của Vũ trụ. Chính sự suy giảm này kéo theo sự suy giảm khối lượng của hạt vật chất theo phương trình:
          m = m0e-Ht
và là nguyên nhân sự nở ra của Vũ trụ với vận tốc không phụ thuộc vị trí trong không gian:
          vR = H(Δm – R0/3)
          Những kết luận này cho thấy số phận không thể tránh khỏi của Vũ trụ là mờ nhạt dần rồi mất hẳn nhường chỗ cho Thái cực và bắt đầu chu kỳ mới một cách ngẫu nhiên.
          Cũng theo công thức trên, ta thấy, sự gia tăng đột ngột và mạnh mẽ tốc độ nở ra của Vũ trụ tại thời điểm bắt đầu thời kỳ Hậu thiên từ v* = HR*  lên vR = H(Δm – R0/3) với hệ số tăng tốc k* = Δ*m/R*  cực lớn (cỡ 1016) làm Vũ trụ dường như nổ tung, dẫn tới khái niệm Bigbang vả thời kỳ “lạm phát” trong khoa học hiện đại. Chú ý rằng, tuy khoa học ghi nhận và đưa ra những khái niệm này nhưng hoàn toàn không chỉ ra được nguyên nhân của chúng. Tuy nhiên, nội dung và bản chất quá trình này khác hẳn với những gì chúng ta đang nghiên cứu.
          3. Chúng ta đã chứng minh được, trong công thức chuyển động của hạt vật chất trong không gian hấp dẫn:
          γ - γ0 = kτ – kτ0    với   kτ = 1/τ – e(1 – τ)   
           
và rút ra kết luận: một hạt vật chất nếu được tách ra từ khối Tiên thiên (γ0 = 1, τ0 = 1) nó có thể chuyển động ra xa tới vô cùng nếu không bị cản trở trong quá trình chuyển động dù cho vận tốc ban đầu là zero, bất chấp lực hấp dẫn. Lực Archimed cung cấp cho nó một vận tốc mà lực hấp dẫn không thể nào kiềm chế được.  Chính lực Archimedes này cũng không cho phép lực hấp dẫn có thể hút những hạt vật chất khác nhỏ hơn vào sát hạt vật chất lớn. Chúng phải bị dừng lại ở khoảng cách 2.52Δm cách bề mặt của nó.
          Chúng ta cũng tìm được công thức tính thế năng của hạt vật chất trong Vũ trụ:
          N = E0(e1- τ – 1/τ) = - kτE0
          Và thấy rằng, thế năng lớn nhất không phải ở nơi xa Tâm Vũ trụ nhất như vẫn thường quan niệm mà chính là ở ngay Tâm Vũ trụ trong khối Thiên thiên. Chính thế năng đó giúp cho một hạt vật chất khi thoát ra từ khối Tiên thiên dù với vận tốc ban đầu bằng zero vẫn có đủ năng lượng chuyển động tới xa vô cùng bất chấp lực hấp dẫn. Nguyên nhân là do đóng góp cực lớn của lực Archimedes vào thế năng của hạt vật chất tại những vị trí không gian có độ co giãn ζ lớn.
         
          Như vậy, nguồn năng lượng khổng lồ giúp Vũ trụ nở ra trong suốt cuộc đời của nó chính là Thế năng tại khối Tiên thiên Tâm Vũ trụ. Đây là câu trả lời cho câu hỏi lớn của các nhà khoa học hiện đại về nguồn năng lượng nào giúp cho Vũ trụ nở ra ? Và khi không thể tìm ra đáp án, các nhà khoa học đã tưởng tượng ra một thứ gọi là “năng lượng tối” và cho rằng nó chiếm tới 75% năng lượng trong Vũ trụ. Thật hài hước khi với tỷ lệ lớn như thế sau hàng mấy chục năm tìm kiếm với đủ mọi thiết bị tinh vi nhất mà cái “bóng ma” năng lượng tối đó vẫn chẳng có mảy may dấu vết. Quả là một kiểu “mê tín dị đoan” khoa học thời hiện đại. Nhưng nay, mọi sự đã rõ ràng, chính thế năng là nguồn năng lượng bảo đảm cho sự nở ra mãi mãi của Vũ trụ.
          5. Chúng ta đã tiến hành khảo cứu sơ bộ về Lỗ đen Vũ trụ và chỉ ra nguồn gốc của chúng là những mảnh vỡ lớn của khối Tiên thiên, đồng thời bác bỏ cái gọi là "đường chân trời sự kiện" hay lỗ đen “nuốt chửng” vật chất thông qua tính toán vận tốc Vũ trụ cấp I của lỗ đen qua đồ thị:
         
          Sự khảo cứu này xóa tan những ý niệm mơ hồ và thần bí suốt thời gian dài về lỗ đen Vũ trụ, đồng thời rất phù hợp với hình ảnh Lỗ đen mà khoa học mới chụp được mấy tháng trước.
         


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #35 vào lúc: 09:48:15 PM Ngày 04 Tháng Sáu, 2019 »

     Nội dung đã pos:

          8. Về Entropy và định luật bảo toàn năng lượng
               8.1. Chứng minh định luật bảo toàn năng lượng, nguyên lý II nhiệt động học
               8.2. Tổng Năng lượng, Tổng Khối lượng, Tổng Entropy  toàn vũ trụ
                    a. Tổng Khối lượng Vũ trụ   
                    b. Tổng Năng lượng Vũ trụ   
                    c. Tổng Entropy toàn Vũ trụ

               8.3. Định luật bảo toàn năng lượng, nguyên lý II nhiệt động học và quá trình lão hóa của Vũ trụ.


    Bình luận 7

          1. Xuất phát từ qui luật tương tác trong thời Hậu thiên luôn hướng tới trạng thái quân bình âm dương chúng ta rút ra một nguyên lý tổng quát trong các tương tác vật lý là năng lượng được trao đổi ngang nhau từ nơi có mật độ năng lượng cao tới nơi có mật độ năng lượng thấp hơn. Từ nguyên lý này, chúng ta đã xây dựng nên một qui luật, và với 2 trường hợp riêng của nó và đã chứng minh được 2 định luật cực kỳ quan trọng trong, cơ sở của vật lý học hiện đại là định luật bảo toàn năng lượng và định luật II nhiệt động học: qui luật entropy luôn tăng, trong các tương tác vật lý. Đồng thời, trên cơ sở đó, ta viết được biểu thức tổng quát của Entropy của một đối tượng bất kỳ. Vấn đề này càng có ý nghĩa hơn khi 2 qui luật này, đến nay, khoa học vẫn chưa chứng minh được một cách rốt ráo, mà mới chỉ là những kết luận rút ra từ  khảo sát thực tế. Và vì thế, điều làm chúng ta luôn lo lắng cho sự đúng đắn của chúng vì thực tế chúng ta quan sát được luôn luôn có giới hạn, đôi khi rất hạn chế. Tới đây, sự lo lắng đó đã được giải tỏa.
          Tuy nhiên, trong quá trình chứng minh 2 định luật này ta cũng thấy rằng, điều kiện đúng đắn của chúng là trạng thái quân bình âm dương. Vì vậy, đây là lần đầu tiên trong khoa học, chúng ta đã chỉ rõ điều kiện đúng đắn của 2 định luật nền tảng khoa học trên. Vậy, liệu trong Vũ trụ có tồn tại một quá trình nào mà định luật trên không thỏa mãn? Rõ ràng, với một suy luận logic thông thường, đó là những quá trình chưa đảm bảo trạng thái quân bình âm dương, hoặc là chưa đạt tới, hoặc là đã bị vượt qua.
          2. Để minh định nhận định trên, ta đã tiến hành tính toán khối lượng, năng lượng và Entropy toàn Vũ trụ và thấy rằng, theo sự suy giảm hệ số co dãn không thời gian ζ hay tăng τ, chúng đều suy giảm về zero sau một giai đoạn nảy sinh và tăng trưởng. Mặt khác, độ suy giảm hệ số co dãn không thời gian phụ thuộc vào thời gian theo phương trình:
            τ = eHt  và    ζ = ζ0e-Ht
          Điều đó có nghĩa là cả khối lượng, năng lượng và Entropy đều được sinh ra và phát triển lên giá trị rất lớn, sau đó đều suy giảm thâm chí về zero khi thời gian rất lớn. Quá trình này sảy ra gắn liền với sự suy giảm hệ số co dãn không thời gian ζ hay tăng τ và đó không phải là các tương tác vật lý mà đơn thuần là một qui luật tự nhiên, phổ biến hệ quả của qui luật tương quan âm/dương luôn tăng mà ta đã nghiên cứu từ chương I. Ta tạm gọi đó là quá trình “lão hóa” của Vũ trụ. Tuy nhiên, sự suy giảm khối lượng, năng lượng và Entropy của Vũ trụ không diễn ra đồng thời mà có trước, có sau: Theo đồ thị của khối lượng, năng lượng và Entropy toàn Vũ trũ , đầu tiên Entropy suy giảm khi τmax = 1 hay ngay sau khi kết thúc thời Tiên thiên, sau đó đến năng lượng E suy giảm khi τmax = 2.7 hay t = (ln2.7)/H = 14.5 tỷ năm và cuối cùng là khối lượng khi τmax = 3.2 hay t = (ln3.2)/H = 17 tỷ năm.
          Do đó, có thể định nghĩa: Quá trình “lão hóa” khối lương, (năng lượng, Entropy) của Vũ trụ là quá trình suy giảm hệ số co dãn không thời gian ζ hay tăng τ làm cho khối lương, (năng lượng, Entropy) của toàn  Vũ trụ suy giảm.
                                                   Quá trình “phát triển” khối lượng, (năng lượng, Entropy) của Vũ trụ là quá trình suy giảm hệ số co dãn không thời gian ζ hay tăng τ làm cho khối lương, (năng lượng,  Entropy) của toàn  Vũ trụ tăng lên.

          Quá trình “phát triển” và “lão hóa” của Vũ trụ là một quá trình tự nhiên, phổ quát, quyết định số phận của Vũ trụ. Trong quá trình này, định luật bảo toàn năng lượng và định luật II nhiệt động học không còn đúng nữa.
          Rõ ràng, trong mục này, chúng ta không những chứng minh định luật vảo toàn năng lượng mà, lần đầu tiên trong khoa học, còn chỉ rõ miền áp dụng của định luật nền tảng này của khoa học hiện đại là chỉ đúng trong các tương tác vật lý và các quá trình quân bình âm dương. Chúng ta còn phát hiện một quá trình vật lý hoàn toàn mới mà mọi thực thể vật lý đều phải than gia: đó là quá trình “phát triển” và “lão hóa”.


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #36 vào lúc: 11:00:55 PM Ngày 10 Tháng Sáu, 2019 »

     Nội dung đã pos:

          9. Sự hình thành và phát triển của Vũ trụ từ đột biến lượng tử ban đầu
              a. Thời Tiên Thiên
               b. Thời Hậu Thiên
               c. Một ví dụ tính toán


    Bình luận 8
           Như vậy, trên cơ sở những nghiên cứu ở trên, chúng ta đã tiến hành tính toán các quá trình hình thành và phát triển của Vũ trụ,  và chỉ ra: bằng cách nào, theo phương trình gì, qui luật gì, hết bao lâu, mà một đốm cực nhỏ về kích thước và khối lượng lại có thể phát triển thành Vũ trụ khổng lồ như ta thấy ngày nay. Tất nhiên, những tính toán này trên cơ sở những hằng số được coi là đã đo đạc chính xác như mật độ lớn nhất của vật chất trong Vũ trụ (ρmax), mật độ năng lượng không gian trên Trái đất (p0), tốc độ ánh sáng (c), hằng số hấp dẫn (G), hằng số Hubble (H), …. Đồng thời chúng ta còn chỉ ra sự phát triển tiếp theo như thế nào và tương lai Vũ trụ sẽ ra sao. Tất cả những tính toán đó chúng ta không cần đến những khái niệm thiếu minh bạch, mơ hồ như vật chất tối, năng lượng tối, lỗ trắng, tính không đồng bộ về thời gian, “tương tác ma quỉ”, thời gian trước Bigbang, … giải thích được tất cả những nghịch lý nảy sinh trong vấn đề này của vật lý hiện đại mà vẫn mô tả được Vũ trụ từ khởi nguyên cho tới khi kết thúc, chẳng có một trở ngại nào. Hơn nữa, những luận điểm của lý thuyết mới đều nằm trong một hệ thống triết học đầy đủ và nhất quán, là thể hiện trên thực tế triết học đó một cách cụ thể. Đó chính là học thuyết Âm dương Ngũ hành mà cổ nhân truyền lại mà tinh túy của nó vẫn nằm rải rác trong nền văn hóa Việt tộc. Điều đó không chỉ có ý nghĩa trong khoa học Vật lý nà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu cổ văn hóa sử Việt.



Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #37 vào lúc: 08:45:57 PM Ngày 13 Tháng Sáu, 2019 »

     KẾT LUẬN
     Như vậy, trong chương II, chúng ta đã sơ bộ nghiên cứu Vũ trụ Vật lý, xây dựng nên một học thuyết Vật lý mới có tên là “Thuyết tuyệt đối”, thay đổi rất nhiều những nguyên lý cơ sở của Vật lý hiện đại, nhưng lại giải quyết được hàng loạt vấn đề Vật lý còn tồn tại.
     Chúng ta đã biết và mô tả được khá chi tiết Vũ trụ được sinh ra như thế nào từ một đột biến lượng tử cực kỳ nhỏ bé trong Thái cực, đã vận động trong xu thế tiến tới trạng thái quân bình âm dương và tương quan âm/dương luôn tăng, phát triển qua thời Tiên thiên và nay đang trong thời kỳ Hậu thiên, trong tương lai sẽ mờ nhạt dần rồi mất hẳn, trở về trạng thái Thái cực bất khả tư nghị.
     Chúng ta cũng đã biết được, bản chất của Vũ trụ chỉ là một trường khí âm dương bao gồm Khí, không thời gian là 2 mặt không thể tách rời. Khí bao gồm Khí dương “tịnh” nên Vũ trụ là một môi trường đàn hồi, co cụm và có tính tất định. Khí bao gồm Khí âm “động” nên Vũ trụ là một môi trường giao động, phân tán và có tính bất định. Tương quan âm dương tạo nên độ co giãn không thời gian ζ quyết định thuộc tính của trường khí âm dương. Do nguyên lý tương quan âm dương luôn tăng nên thời gian luôn trôi về phía trước, độ co giãn không thời gian ζ luôn suy giảm, Vũ trụ luôn nở ra. Năng lượng bảo đảm cho quá trình nở ra đó chính là thế năng của vật chất trong Vũ trụ mà người ta lầm tưởng là do một thứ “năng lượng tối” nào đó. Cái gọi là “vật chất tối” chỉ là khối lượng khí bên ngoài hạt vật chất  với độ co giãn không thời gian ζ khác nhau mà thôi.
     Đó là đáp án cho những câu hỏi làm đau đầu biết bao thế hệ từ cổ chí kim: bản chất Vũ trụ là gì? Không gian, thời gian, vật chất là gì? Nó được cấu tạo như thế nào? Nó từ đâu đến, phát triển thế nào và sẽ đi về đâu?...
     Trong khoa học hiện đại, người ta lúng túng về sự không tương thích giữa vật lý cổ điển và cơ học lượng tử. Trong lý thuyết của chúng ta, thế giới vi mô và vĩ mô hoàn toàn không phân biệt, đều phải tuân thủ những định luật tương tác âm dương. Như đã phân tích, tính bất định do Khí âm sinh ra chiếm tỷ trọng cao hơn trong thế giới vi mô so với thế giới vĩ mô, thể hiện ở tần số f do động lượng sinh ra không thể bỏ qua. Nhưng trong thế giới vĩ mô thì tỷ trọng đó không đáng kể, có thể bỏ qua. Tuy bỏ qua nhưng thực chất những hiệu ứng đó vẫn tồn tại. Do đó, sự phân biệt thế giới vĩ mô và vi mô chỉ đơn thuần do độ chính xác khi tính toán, hoàn toàn không phải vì vấn đề bản chất. Nói cách khác, về bản chất, thế giới vi mô và vĩ mô trong lý thuyết của chúng ta  là thống nhất, đồng thời những qui luật, phương trình chúng ta xây dựng thể hiện rõ sự thống nhất đó. Như vậy, có thể nói, Thuyết tuyệt đối thống nhất cả thế giới vi mô lẫn vĩ mô.
     Chúng ta đã lý giải, làm rõ được bản chất hàng loạt những hiện tượng vật lý một cách hệ thống, chỉnh sửa các công thức vật lý quan trọng và nổi tiếng như công thức E = mc2, công thức Broglie, phép biến đổi Lorentz, con lắc Foucaul, đường chân trời sự kiện, định luật bảo toàn năng lượng, nguyên lý thứ 2 nhiệt động học, độ không tuyệt đối, lực Archimed, độ co giãn không thời gian trong hệ qui chiếu chuyển động, rối lượng tử, lỗ đen Vũ trụ … Với những kết quả đó, nhận thức của chúng ta về Vũ trụ có nhiều thay đổi cơ bản.
     Tóm lại, chúng ta đã xây dựng nên một lý thuyết vật lý thật mới mẻ và tổng quát, dung hòa được hầu hết những thành tựu khoa học trước kia, giải quyết được tất cả những vấn nạn của khoa học hiện đại về những nguyên lý tổng quá bao trùm nhất. Lý thuyết vật lý mới này là sư kế thừa và phát triển lên mức cao hơn của khoa học hiện đại cũng tương tự như sự phát triển từ cơ học Newton lên Thuyết tương đối cùa Einstein vậy.


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #38 vào lúc: 10:20:35 PM Ngày 15 Tháng Sáu, 2019 »

     Các bạn hân mến!
     Như vậy, tôi đã pos xong những phần cơ bản nhất của Thuyết tuyệt đối, một lý thuyết hoàn toàn mới cho đến nay. Chắc các bạn cũng nhận thức rõ ý nghĩa của lý thuyết này với khoa học hiện đại. Cũng như mọi lý thuyết còn mới mẻ khác từ xưa tới nay, việc đưa chúng vào thực tế khoa học không phải là vấn đề đơn giản và mau chóng. Tôi nghĩ rằng, diễn đàn của chúng ta là diễn đàn chuyên về vật lý, tất không thiếu những con người tâm huyết và có trình độ cao về vật lý lý thuyết. Vì thế, tôi xin chờ đợi những đóng góp, phản biện, bình luận, ... của các bạn với tinh thần khoa học và cầu thị.
     Thân ái!


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #39 vào lúc: 09:34:24 PM Ngày 27 Tháng Sáu, 2019 »

     Các bạn thân mến!
     Theo khoa học hiện đại, cấu tạo hố đen vũ trụ khối lượng M gồm một điểm kỳ dị ở trung tâm với mật độ vật chất cực lớn, gần như vô hạn. Xung quanh điểm kỳ dị là một không gian có bán kính R = 2GM/c2 với lực hấp dẫn cực lớn có thể cầm giữ mọi hạt vật chất kể cả hạt ánh sáng không cho thoát ra. Vì thế, vùng không gian này không thể nhìn thấy được, nó sẽ đen kịt, gần như tuyệt đối (chỉ có thể một lượng rất nhỏ bức xạ Hawking là có thể thoát ra). Bán kính R = 2GM/c2 còn gọi là chân trời sự kiện. Bên ngoài chân trời sự kiện là hững hạt bụi vật chất chuyển động với vận tốc cao, tạo ra lực ly tâm chống lại lực ấp dẫn. Như vậy, càng gần chân trời sự kiện, vật tốc những hạt vật chất này càng cao và giảm dần khi cách xa chân trời sự kiên. Trong quá trình chuyển động, những hạt vật chất đó va chạm, ma sát với nhau và phát ra bức xạ. Vận tốc chuyển động càng cao thì bức xạ phát ra càng lớn.
     Mô hình hố đen vũ trụ được các nhà khoa học mô tả bằng hình ảnh như sau:
         
         
         
     Rõ ràng, theo hình ảnh trên, ta thấy, vùng sáng nhất chính là tại vị trí sát ngay chân trời sự kiện, hay tỷ số bán kính vùng sáng nhất trên bán kính vùng tối nhất là 1:
          Rsáng nhất /Rtối nhất  = 1
     Tuy nhiên, theo Thuyết tuyệt đối, như đã pos trong mục Phần II.7.b. Lỗ đen Vũ trụ, ta thấy, phần đen nhất có δ = 2.52 => Rtối nhất  = 2.52GM/c2. Phần sáng nhất là phần có vận tốc Vũ trụ cấp I lớn nhất có δ = 5.71 => Rsáng nhất = 5.71GM/c2.
     Như vậy, tỷ số bán kính vùng sáng nhất trên bán kính vùng tối nhất là:
          Rsáng nhất /Rtối nhất  = 2.27
     Như vậy, có sự sai lệch rất lớn giữa Thuyết tuyệt đối và khoa học hiện đại về tỷ số này.
     Gần đây, các nhà khoa học trên thế giới đã chụp ảnh đươc một lỗ đen vụ trụ và công bố trên thông tin đại chúng như sau:
         
     Rõ ràng, mô hình lỗ đen vũ trụ của các nhà kho học hiện đại không phù hợp với thực tiễn khách quan là hình ảnh này. Trong khi đó, mô hình hố đen vũ trụ của thuyết tuyệt đối hầu như trùng hợp hoàn toàn, được mô tả trong hình ảnh sau:
         
     Như vậy, đây là một minh chứng cho sự đúng đắn của Thuyết tuyệt đối so với khoa học hiện đại


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #40 vào lúc: 11:28:51 PM Ngày 21 Tháng Bảy, 2019 »

     Các bạn thân mến!
     Mời các bạn tham khảo bài viết:"Các vấn đề vật lý hạt cơ bản của thế kỷ XXI" tại http://dongtac.hncity.org/?Vu-tru-luong-tu-Cac-van-de-vat-ly-hat-co-ban-cua-the như sau:

    Các vấn đề vật lý hạt cơ bản của thế kỷ XXI
                                           GS NGUYỄN NGỌC GIAO
                                           Thứ Hai 15, Tháng Mười Hai 2008, do Khoa hoc

     Tháng 10/2003 Raymond L.Orbach, Giám đốc Vụ Khoa học của Bộ Năng lượng Mỹ và Michael Turner, Trợ lý Giám đốc Ban Khoa học Toán-Lý của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ đã đồng ký tên một công văn gửi GS. Frederik Gilman, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Vật lý Năng lượng cao (HEPAP) đề nghị thành lập một Ủy ban để xem xét các vấn đề chính yếu hiện nay trong vật lý năng lựợng cao, vật lý thiên văn hạt và vũ trụ học và đề xuất phương hướng nghiên cứu sắp tới cũng như triển vọng. HEPAP đã thành lập một Ủy ban gồm 17 nhà khoa học để thực hiện yêu cầu trên. Và sau đây là tóm tắt báo cáo do Ủy ban đó soạn thảo.
    I.- MỞ ĐẦU
         Bản chất vũ trụ là gì và nó được cấu tạo từ cái gì?
         Vật chất, năng lựợng, không gian, thời gian là gì?
         Chúng ta xuất hiện ở đây như thế nào và đang đi đâu?
     Việc cố gắng trả lời các câu hỏi cơ bản về vũ trụ đã đạt đến bước ngoặt. Vào những năm đầu thế kỷ XXI, các nhà vật lý đã nắm vững được tính chất các hạt và các lực đặc trưng cho vật chất thông thường xung quanh chúng ta. Mặt khác, các quan sát vật lý thiên văn và vũ trụ bằng các trạm không gian lại cho thấy bức tranh đó của vũ trụ là không đầy đủ, vì 95% thành phần vũ trụ lại không phải cấu tạo từ vật chất thông thường, mà từ một cái gì khác còn bí ẩn : đó là vật chất tối và năng lựợng tối. Như vậy chúng ta đã nhận thức được là thực tế ta không biết gì về đại bộ phận những gì tạo nên vũ trụ.
     Để hiểu được vũ trụ “mới” còn chưa biết đó, ta cần những phát hiện mới của vật lý hạt. Các quan sát thiên văn giúp ta khảo sát các tham số của vũ trụ, các máy gia tốc giúp ta xây dựng một lời giải lượng tử cho các tham số đó. Năng lựợng đạt được ở các máy gia tốc ngày nay đã đến gần các điều kiện ở những giây phút đầu tiên sau Vụ Nổ Lớn, là công cụ sẽ giúp ta phát hiện ra vật chất tối, năng lựợng tối là gì, thực hiện cuộc cách mạng về nhận thức vật lý hạt cơ bản và vũ trụ.
     Chưa lúc nào như lúc này, hai cách tiếp cận từ quan sát vũ trụ và từ thí nghiệm với máy gia tốc lại song hành hỗ trợ nhau mật thiết đến như vậy.
    II.- BẢN CHẤT CƠ BẢN CỦA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LỰỢNG, KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN.
     Các thí nghiệm đang tiến hành cũng như dự kiến tiến hành của vật lý hạt cơ bản ở các phòng thí nghiệm khắp nơi trên thế giới sẽ cho ta khả năng nêu lên chín câu hỏi về các định luật vật lý cơ sở đang chi phối vũ trụ.
     Các câu hỏi này vừa rất quen thuộc nhưng đồng thời có tính cách mạng sâu sắc, xác định hướng đi của vật lý hạt cơ bản trong thế kỷ XXI.
     Chín câu hỏi này ta có thể gọn lại theo 3 nội dung lớn như sau :
          GIẤC MƠ CỦA EINSTEIN VỀ CÁC LỰC HỢP NHẤT
     Giấc mơ này có thể nói đã được thực hiện khá tốt trong phạm vi vi mô, lượng tử (Mô hình tiêu chuẩn – Standard Model SM). Tuy nhiên các ý tưởng lượng tử đó lại không áp dụng được cho phạm vi vũ trụ. Có thể còn thiếu một vài thành tố nào đó; trường hấp dẫn, vật chất tối, năng lựợng tối phải có một cách diễn giải lượng tử. Phải có một lý thuyết gì đó bao quát được cả SM và thuyết tương đối tổng quát, đồng thời giải quyết được bí ẩn của năng lựợng tối.
     Câu hỏi 1.- Có hay không những nguyên lý của tự nhiên mà ta chưa phát hiện ra: những đối xứng mới, những định luật vật lý mới ?
     Công cuộc nghiên cứu của chúng ta từ trước tới nay về các định luật cơ bản của tự nhiên đã giúp ta nhận thức được là các định luật vật lý, và các hạt vật chất bị chi phối, tồn tại là do các đối xứng của tự nhiên làm nền tảng, một số trong các đối xứng này đã mất đi ngay từ Vụ Nổ Lớn. Một trong những đối xứng bị mất đó có thể là siêu đối xứng. Siêu đối xứng dự kiến là đi cặp với mỗi hạt thông thường luôn luôn có một hạt đồng hành siêu đối xứng. Lý thuyết siêu đối xứng – phần cốt lõi của lý thuyết dây, hé mở khả năng một trong những hạt đồng hành này, hạt neutralino, là ứng viên cho vật chất tối, cũng như mối liên quan có thể giữa siêu đối xứng và năng lựợng tối.
     Việc phát hiện ra siêu đối xứng rõ ràng là một thách thức thực nghiệm đối với vật lý hạt cơ bản, chưa nói đến việc khảo sát chi tiết cấu trúc và tính chất các hạt đồng hành siêu đối xứng.
    Câu hỏi 2.- Ta giải quyết bí ẩn của năng lượng tối như thế nào ?
     Các đo đạc gần đây bằng kính thiên văn cũng như các trạm không gian cho thấy là có một lực bí ẩn - năng lựợng tối – lấp đầy vacuum của không gian trống rỗng, thúc đẩy tăng tốc sự dãn nở của vũ trụ. Ta không biết năng lựợng tối là gì, và tồn tại để làm gì. Mặt khác lý thuyết hạt cơ bản cho ta biết là ở mức độ vi mô, ngay cả một vacuum hoàn hảo cũng chứa đầy các cặp hạt lượng tử, có thể là nguồn gốc tự nhiên của năng lựợng tối. Tuy nhiên, tính toán sơ bộ năng lựợng tối sinh bởi vacuum đó lại cho một giá trị 10120 lần lớn hơn giá trị quan sát. Như vậy phải có một quá trình vật lý gì đó, chưa biết, để khử hầu hết năng lượng vacuum đó, chỉ chừa lại đủ để gia tốc sự dãn nở vũ trụ như đã thấy. Cần thiết một lý thuyết mới của vật lý hạt cơ bản để giải thích quá trình này.
     Các số liệu thực nghiệm lại dẫn đến một thành phần bí ẩn khác của không gian trống rỗng, đó là trường Higgs, trường này “cung cấp” khối lượng cho các hạt. Nếu không có trường Higgs thì các electron sẽ chuyển động với vận tốc ánh sáng, và các nguyên tử sẽ phân rã tức thời. Năng lựợng tối và trường Higgs có liên quan gì với nhau không? Việc phát hiện ra siêu đối xứng có thể sẽ cho thấy mối liên quan đó, có thể sẽ giải thích được giá trị nhỏ, nhưng hữu hạn của năng lượng tối.
     Câu hỏi 3.- Có hay không những chiều dư (extra) của không gian ?
     Ý tưởng có tính cách mạng của lý thuyết dây là việc thực hiện rõ ràng giấc mơ của Einstein về một phương cách giải thích cốt lõi nhất của tất cả mọi vật, từ lượng tử nhỏ nhất của vật lý hạt đến toàn bộ vũ trụ. Lý thuyết dây hợp nhất toàn bộ vật lý với việc diễn tả mọi lực và mọi hạt như là các dao động khác nhau của chỉ một đối tượng duy nhất gọi là siêu dây (dây siêu đối xứng).
     Các siêu dây có tồn tại không? Bản thân dây có thể là quá nhỏ để ta quan sát trực tiếp được, nhưng lý thuyết dây lại có một số tiên đoán có thể kiểm nghiệm được. Lý thuyết này đòi hỏi siêu đối xứng và tiên đoán sự tồn tại của bảy (7) chiều không gian cho đến nay chưa phát hiện ra, những chiều dư này là nguyên nhân cho phần lớn độ phức tạp của bức tranh vật lý hạt. Kiểm nghiệm tính đúng đắn của lý thuyết dây chính là phải tìm cho ra các chiều dư đó của không gian. Có bao nhiêu chiều dư tất cả? Dáng vẻ và kích thước chúng ra sao? Tại sao chúng lại ẩn? Có hạt mới nào gắn liền với các chiều dư đó không?
     Câu hỏi 4.- Tất cả các lực rồi có trở thành một không ?
     Ở mức cơ bản nhất các hạt và lực có thể hội tụ lại nhau, hoặc thông qua các nguyên tắc ẩn như thống nhất lớn, hoặc thông qua vật lý mới như siêu dây.
          THẾ GIỚI HẠT
     Các nhà vật lý đã tìm được nhiều loại hạt cơ bản, và xác định được khá chi tiết các tính chất của từng hạt. Vai trò của chúng là gì? Làm sao biết được khi nào ta tìm được hết tất cả các loại hạt?
    Câu hỏi 5.- Vì sao có nhiều loại hạt như vậy?
     Chúng ta đã phát hiện được 3 họ quark và lepton - các phần tử cơ bản nhất, ba họ này chỉ khác nhau về khối lượng, từ dưới một phần triệu khối lượng electron cho đến khối lượng của một nguyên tử vàng. Tương tự như cơ lượng tử giúp ta giải thích cách sắp xếp bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học, ngày nay chúng ta đang tìm kiếm các lý thuyết mới giải thích tính chất các hạt cơ bản. Tại sao tồn tại ba họ hạt, và tại sao khối lượng chúng lại khác nhau đến như vậy? Tại sao tính chất các quark và lepton lại hoàn toàn khác nhau?
    Câu hỏi 6.- Vật chất tối là gì ? Làm thế nào có chúng trong phòng thí nghiệm?
     Phần lớn vật chất trong vũ trụ là tối. Nếu không có vật chất tối thì các ngôi sao, các thiên hà đã không hình thành được, và đã không có sự sống ngày nay. Vật chất tối gắn kết vũ trụ lại với nhau. Nó là gì?
     Tuy rằng sự tồn tại của vật chất tối đã được đề xuất từ những năm 1930, nhưng chỉ ở 10 -15 năm cuối này, các nhà khoa học mới đạt được bước tiến đáng kể trong việc hiểu biết các tính chất của nó, phần lớn là xác định những gì không phải là nó. Các quan sát gần đây về ảnh hưởng của vật chất tối lên cấu trúc vũ trụ cho thấy là nó không giống bất kỳ dạng vật chất nào mà ta đã biết hoặc đã đo được trong phòng thí nghiệm. Đồng thời cũng xuất hiện nhiều lý thuyết để giải thích vật chất tối là gì, chẳng hạn lý thuyết siêu đối xứng tiên đoán những họ hạt mới, tương tác rất yếu với vật chất thông thường, mà hạt nhẹ nhất trong số đó có thể chính là hạt vật chất tối.
    Câu hỏi 7.- Các hạt neutrino nói với ta điều gì ?
     Neutrino là hạt bí ẩn nhất trong số các hạt mà ta biết được trong vũ trụ. Nó luôn cho ta nhiều bất ngờ. Nó tương tác với các hạt khác yếu tới mức cả tỷ neutrino mỗi giây xuyên qua cơ thể ta mà không để lại dấu vết gì. Mặt Trời cũng bức xạ vô số neutrino, sinh ra trong các phản ứng nhiệt hạch trong lòng của mình. Các neutrino này được sinh ra chỉ một loại, nhưng trong quá trình di chuyển đến Trái Đất, chúng lại biến qua hai loại kia một cách bí ẩn. Các neutrino có khối lượng, nhưng hạt neutrino nặng nhất cũng chỉ bằng một phần triệu khối lượng của hạt tích điện nhẹ nhất.
     Việc neutrino có khối lượng nhỏ như vậy có thể là do chúng nhận được khối lượng từ một quy luật vật lý còn chưa biết, có thể liên quan đến lực thống nhất. Việc khảo sát chi tiết các tính chất hạt neutrino - khối lượng, cách thức chúng biến từ loại này qua loại kia, và chúng có phải là phản hạt của chính mình không, v.v… - sẽ cho ta biết neutrino có phải là hạt vật chất thông thường không, hay lại là cái gì khác.
          SỰ XUẤT HIỆN VŨ TRỤ
     Cái gì khởi động Vụ Nổ Lớn? Làm thế nào không gian, thời gian, vật chất và năng lựợng có được hình dạng như ta thấy hiện giờ? Ta có thể nào đi ngược lại lịch sử vũ trụ không?
     Những quá trình ở giai đoạn đầu đã xảy ra ở nhiệt độ và mật độ vật chất vô cùng lớn, đã quyết định những tính chất cơ bản của vật lý hạt. Những quá trình đó đã được điều chỉnh tinh vi sao cho có thể xuất hiện được các thiên hà, các ngôi sao và hành tinh. Có hay không những định luật vật lý mà ta chưa biết, chúng quyết định sự tồn tại của con người?
    Câu hỏi 8.- Vũ trụ đã hình thành như thế nào?
     Theo lý thuyết hiện nay thì vũ trụ đã bắt đầu bằng một vụ nổ kỳ lạ, tiếp theo là sự giãn nở bột phát cực kỳ nhanh (lạm phát). Để hiểu được hiện tượng giãn nở lạm phát, cần phải có những đột phá trong hiểu biết của chúng ta về vật lý cơ sở, về hấp dẫn lượng tử, và về lý thuyết hợp nhất các tương tác. Tuy rằng các điều kiện giãn nở lạm phát tương ứng năng lựợng quá cao không thể tạo lại trên trái đất, ta vẫn có thể quan sát thấy dấu ấn của nó qua nên bức xạ vi ba vũ trụ tàn dư hiện nay.
     Ngay sau vụ giãn nở lạm phát, các điều kiện vật lý là cực kỳ đặc biệt nên có thể tổ hợp các hạt cơ bản lại thành một pha mới của vật chất. Trong quá trình vũ trụ dãn nở và nguội đi, đó chính là hiện tượng chuyển pha, giống như hơi nước ngưng tụ thành nước, và các hiện tượng này còn để lại tàn dư quan sát được hiện nay.
     Hiện tượng chuyển pha vũ trụ có thể tái lập lại trong các thí nghiệm ở máy gia tốc năng lượng cao.
     Câu hỏi 9.- Phản vật chất đi đâu hết ?
     Vụ Nổ Lớn gần như chắc chắn tạo ra các hạt và phản hạt với số lượng bằng nhau. Tuy vậy, mọi quan sát trong phạm vi vũ trụ quan sát được lại cho thấy là ta đang sống trong một vũ trụ của vật chất, chứ không phải của phản vật chất.
     Cái gì đã xảy ra với phản vật chất ? Có thể ngay từ đầu đã có một sự mất cân bằng nhỏ giữa vật chất và phản vật chất, hoặc phản vật chất đã bị hủy hết thành photon và neutrino. Ngày nay, các nhà vật lý quan sát thấy trong phòng thí nghiệm một sự bất đối xứng rất nhỏ giữa vật chất và phản vật chất, tuy nhiên việc hiểu các bất đối xứng đó là không đầy đủ, không đủ để giải thích sự thống trị của vật chất trong vũ trụ.
Phải chăng có một hiện tượng gì đó còn bí ẩn, gây ra diễn tiến khác nhau giữa vật chất và phản vật chất? Nguồn gốc hiện tượng này phải chăng liên quan với boson Higgs, hoặc với siêu đối xứng, hoặc với các chiều dư của không gian ?
     Chín câu hỏi nêu trên xác định phương hướng tương lai của vật lý hạt cơ bản. Trả lời những câu hỏi đó là mục tiêu của một chương trình nghiên cứu toàn cầu, định hướng các thí nghiệm đang và sẽ tiến hành cũng như thiết kế các thiết bị nghiên cứu vô tiền khoáng hậu.


    Như vậy, Thuyết Tuyệt đối đã cho câu trả lời lên phần lớn những vấn đề đó một cách trực tiếp (những mục có gạch dưới ở trên). Điều đó chứng tỏ tính đúng đắn và hiệu quả của nó.
     Ngoài ra, bạn có thể tham khảo hai địa chỉ sau và thấy rằng, hiện nay, chỉ có Thuyết Tuyệt đối mới có thể lý giải được những mâu thuẫn trên:
          http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/vu-tru-dang-gian-no-co-gia-toc-4513
        http://360.thuvienvatly.com/bai-viet/thien-van-vu-tru/4248-sai-lech-9-phan-tram

     Tôi có thể khẳng định, hiện nay, chỉ có Thuyết Tuyệt đối mới có khả năng giải quyết toàn bộ những vấn nạn cơ bản nhất của vật lý lý thuyết một cách logic, nhất quán và có hệ thống (tôi không nói về những vấn nạn của các môn vật lý chuyên nghành hẹp).
     Mời các bạn cho ý kiến!




Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #41 vào lúc: 01:13:54 PM Ngày 27 Tháng Bảy, 2019 »

Thuyết Tuyệt đối pos cũng đã khá lâu, đã hơn 1500 lượt đọc mà sao không có ai cho ý kiến nhỉ?
Phải chăng trên diễn đàn này không có ai đủ nhiệt huyết, nhận thức và trình độ hay sao?
Thật quá thất vọng!


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #42 vào lúc: 08:29:04 AM Ngày 18 Tháng Tám, 2019 »

     Các bạn thân mến!
     Khi đưa ra một lý thuyết mới thay thế một lý thuyết cũ, ta cần chỉ ra một mâu thuẫn nội tại trong lý thuyết cũ và xác định xem, mâu thuẫn, sai lầm của lý thuyết cũ là gì, sảy ra ở đâu trong chuỗi khai triển lý thuyết đó. Vì thế, trong bài pos này, tôi xin đưa ra một mâu thuẫn nội tại trong Thuyết tương đối và chỉ rõ sai lầm đó sảy ra ở đâu trong khai triển lý thuyết của Thuyết Tương đối. Tất nhiên Thuyết Tuyệt đối tránh được sai lầm này và chứng tỏ được tính đúng đắn của nó.




Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #43 vào lúc: 01:41:55 PM Ngày 18 Tháng Tám, 2019 »

     Các bạn thân mến!
     Do nhầm lẫn nên trong mục "VỀ SAI LẦM CỦA THUYẾT TƯƠNG ĐỐI NGAY TRONG KHAI TRIỂN LÝ THUYẾT" ở bài trên, tôi xin sửa chưa 3 dòng 20, 21, 22 thành:
     
Chân thành xin lỗi!
Cảm ơn!


Logged
Tags:
Trang: « 1 2 3   Lên
  In  
sch

Những bài viết mới nhất
Những bài viết mới nhất
 
Chuyển tới:  


Tắt bộ gõ tiếng Việt [F12] Bỏ dấu tự động [F9] TELEX VNI VIQR VIQR* kiểm tra chính tả Đặt dấu âm cuối
Powered by SMF 1.1.11 | SMF © 2006, Simple Machines LLC © 2006 - 2012 Thư Viện Vật Lý.