Giai Nobel 2012
12:26:57 AM Ngày 20 Tháng Mười, 2019 *

Chào mừng bạn đến với Diễn Đàn Vật Lý.

Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Hay bạn đã đăng ký nhưng cần gửi lại email kích hoạt tài khoản?
Vui lòng nhập tên Đăng nhập với password, và thời gian tự động thoát





Lưu ý: Đây là diễn đàn của Thư Viện Vật Lý. Tài khoản ở Diễn Đàn Vật Lý khác với tài khoản ở trang chủ Thuvienvatly.com. Nếu chưa có tài khoản ở diễn đàn, bạn vui lòng tạo một tài khoản (chỉ mất khoảng 1 phút!!). Cảm ơn các bạn.
Phòng chát chít
Bạn cần đăng nhập để tham gia thảo luận
Vật lý 360 Độ
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 86)
16/10/2019
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 85)
16/10/2019
Tương lai của tâm trí - Michio Kaku (Phần 26)
14/10/2019
Tương lai của tâm trí - Michio Kaku (Phần 25)
14/10/2019
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 54)
01/10/2019
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 53)
01/10/2019

follow TVVL Twitter Facebook Youtube Scirbd Rss Rss
  Trang chủ Diễn đàn Tìm kiếm Đăng nhập Đăng ký  


Quy định cần thiết


Chào mừng các bạn đến với diễn đàn Thư Viện Vật Lý
☞ THI THỬ THPT QG LẦN 8 MÔN VẬT LÝ 2019 - 21h00 NGÀY 9-6-2019 ☜

Trả lời

Tóm lược THUYẾT TUYỆT ĐỐI

Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tóm lược THUYẾT TUYỆT ĐỐI  (Đọc 2358 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: 11:26:32 PM Ngày 11 Tháng Tư, 2019 »

Các bạn thân mến!
Đã gần một năm rưỡi khi tôi công bố Thuyết Tuyệt đối trên diễn đàn của chúng ta (từ14/12/2017) tại http://thuvienvatly.com/forums/index.php?topic=25304.0, nhưng hầu như chưa nhận được phản biện gì. Có lẽ, đối với các bạn quan tâm, khó theo dõi do chưa nắm bắt được mạch tư duy của thuyết vì nó quá dài và những ý tưởng quá phi truyền thống.
Để thuận lợi hơn cho các bạn theo dõi, tôi xin tóm lược Thuyết Tuyệt đối sao cho ngắn gọn, dễ hiểu, bỏ qua những lý luận và biến đổi toán học, nhấn mạnh những kết quả về Vật lý mới lạ đối với khoa học hiện đại. Bạn nào muốn chi tiết hơn xin vào http://thuvienvatly.com/forums/index.php?topic=25304.0 để tham khảo.
Có lẽ đây là lý thuyết khoa học vật lý cơ bản đầu tiên được phát triển 100% bởi người Việt. Mong rằng các bạn bỏ chút thời gian để thẩm định và phản biện.
Thân ái!


Logged


TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #1 vào lúc: 12:03:25 AM Ngày 12 Tháng Tư, 2019 »

Trước hết, tôi xin bỏ qua trình bày về chương I vốn chỉ liên quan đến một số khái niệm cơ bản của học thuyết Âm dương Ngũ hành, nhưng sẽ tóm lược một số kết luận của nó phục vụ cho môn Vật lý, làm cơ sở cho những phát triển tiếp theo. Tuy nhiên, tôi xin khẳng định, những phát triển Vật lý tiếp theo đó chính là sự triển khai cụ thể những gì bàn ở chương I.
Một số kết luận ở chương I như sau:
Sự hình thành, phát triển của Vũ trụ:
+ Khởi nguyên của Vũ trụ là một trạng thái đặc biệt gọi là Thái cực có thuộc tính chí tịnh (đồng nhất, không có phân biệt..). Ở trạng thái này chưa có không gian, thời gian và cũng chưa có vật chất nên không thể so sánh, mô tả nó bằng bất cứ thứ gì trong thế giới ngày nay. Vì thế, người xưa nói, Thái cực bất khả tư nghị. Tuy nhiên, Thái cực hàm chứa tất cả mọi yếu tố, nhưng do đồng nhất, không  phân biệt nên mọi yếu tố đó vẫn còn dưới dạng mầm mống chưa bộc lộ.
+ Đột nhiên, một đột biến lượng tử từ những mầm mống đó làm xuất hiện một thuộc tính động, dù rất nhỏ nhưng trong cái chí tịnh, đồng nhất, không có phân biệt... của Thái cực vẫn tạo ra sự khác biệt đủ lớn, gọi là tính âm. Khi đó, tính tịnh của Thái cực được gọi là tính dương (để phân biệt với tính âm vừa xuất lộ).
Tính âm và tính dương là những thuộc tính, khi thể hiện, chúng phải thông qua những lực lượng tương ứng, xuất hiện cùng với chúng, mang đặc tính của chúng gọi là lực lượng âm – Khí âm, lực lượng dương – Khí dương. Âm “động” có xu hướng làm thực tại biến đổi trạng thái hiện tại, dương “tịnh” có xu hướng bảo tồn trạng thái hiện tại. Do có sự phân biệt âm dương thành hai chiều hướng tác động nghịch nhau như thế, nên Khí âm, Khí dương tương tác với nhau. Kết quả của sự tương tác là tạo ra những giá tri mới làm sự vật phát triển không ngừng.
Sự phân biệt và biến đổi đã có thì phải được thể hiện ra bằng một phương thức nào đó. Phương thức đó phải bao gồm cái (đối tượng) biến đổi và những yếu tố (thông số) mô tả sự biến đổi đó. Cái biến đổi chính là Khí âm vừa mới được sinh ra từ Thái cực - cùng với Khí dương, tạo thành một đối tượng thể hiện tương tác âm dương gọi là Khí hay Vật chất. Yếu tố mô tả sự biến đổi, được gọi là Không-thời gian  bao gồm không gian và thời gian. Toàn bộ hệ thống gồm cái biến đổi (Vật chất) và thông số biến đổi (Không-thời gian) đó, gọi là Trường khí âm dương. Do đó, Vũ trụ chỉ là một trường khí âm dương mà thôi.
- Ban đầu, tính từ thời gian 0, khi vừa mới xuất hiện từ Thái Cực, Trường khí âm dương còn rất nhỏ, mâu thuẫn âm dương chưa bộc lộ, giá trị mới được sinh ra ở mọi vị trí, mọi thể tích, làm cho Vũ trụ phát triển thuận lợi. Thời kỳ đó gọi là Tiên Thiên. Trong thời kỳ này, do các lực lượng Âm, Dương không mâu thuẫn, hình thức tồn tại của Vũ trụ ở thời kỳ này là sự phân bố tương đối đồng đều của Khí âm, Khí dương trong không thời gian.
- Khi Khí âm, Khí dương và cùng với chúng là Vũ trụ phát triển tới một mức nào đó, mâu thuẫn âm dương xuất hiện trong quá trình tương tác. Tuy mâu thuẫn âm dương cản trở, nhưng giá trị mới vẫn được sinh ra nhưng với tốc độ thấp hơn làm Vũ trụ phát triển chậm lại. Hình thức tồn tại của Vũ trụ lúc này là vô số vận động, biến đổi, tương tác vật chất trong Không thời gian theo qui luật tiến tới trạng thái âm dương quân bình động, đồng thời tương quan Âm/Dương ngày càng tăng. Thời kỳ này gọi là thời kỳ Hậu Thiên.
Ở thời kỳ Hậu thiên, trong tương tác âm dương, Khí dương vốn tịnh, bảo thủ, cứng mạnh, cản trở vận động, nên có xu hướng bảo tồn trạng thái hiện tại của Không thời gian có từ thời Tiên thiên, không cho phân tán ra, hình thành các trung tâm đậm đặc trường khí âm dương, bảo tồn kích thước Không thời gian lân cận những trung tâm ấy. Còn ở những khoảng cách xa các trung tâm đó, ảnh hưởng của khí dương yếu hơn, Khí âm vốn bản chất động, có xu hướng ngược lại, làm cho các trung tâm đó vận động tản ra. Không-thời gian giữa những nơi ấy, do tác động của Khí âm ngày càng tăng, trong khi ảnh hưởng của Khí dương từ trung tâm ngày càng yếu, cũng giãn ra nhiều hơn, hay chúng dịch chuyển ngày càng xa nhau hơn làm cho Vũ trụ ngày càng “nở ra”. Sự bảo tồn kích thước Không thời gian có từ thời Thiên thiên do Khí dương tác động, trong xu hướng phân rã ngày càng tăng do Khí âm ảnh hưởng, hình thành các hạt vật chất cơ bản, và vật chất vật lý nói chung, vận động không ngừng có xu hướng phân ly và quay xung quanh khối Tiên thiên chưa phân rã hết, do tính “tịnh” (bảo tồn, co cụm) của Khí dương bảo vệ, có mật độ Khí Dương lớn nhất gọi là Tâm Vũ trụ. Như vậy, Tâm Vũ trụ là vị trí của khối Tiên thiên chưa phân rã hết trong Vũ trụ, có độ co dãn Không thời gian rất lớn của thời kỳ Tiên thiên. Càng xa Tâm Vũ trụ, tương quan âm/dương càng lớn, dẫn đến độ co dãn không thời gian càng giảm, vật chất trong Vũ trụ càng chuyển động ly tâm và quay quanh Tâm Vũ trụ càng mạnh. Do đó, có thể lấy Tâm Vũ trụ làm cơ sở xác định chuyển động của các hạt vật chất khác, hay coi Tâm Vũ trụ như một vị trí đứng yên tuyệt đối trong Vũ trụ. Như vậy, sự phát triển của Vũ trụ thởi Hậu thiên chính là quá trình phân rã (vỡ ra) của khối vật chất Tiên thiên lấy Tâm Vũ trụ làm trung tâm khởi phát.
Quá trình đó được mô tả trong mô hình dưới đây

Qua mục trên, ta có thể rút ra một số điểm sau cho khảo sát Vật lý như sau:
1- Vũ trụ chẳng qua chỉ là một Trường khí âm dương, gồm 2 mặt không thể tách rời là Khí và Không-thời gian (phương tiện mô tả, thể hiện của Khí). Khí, chính là vật chất, gồm 2 mặt không thể tách rời là Khí âm (động) và Khí dương (tịnh) tạo nên. Không-thời gian cũng do 2 măt không thể tách rời là không gian và thời gian tạo nên:
Trường khí ân dương = Khí (Vật chất) + Không-Thời gian
Khí (Vật chất) = Khí âm + Khí dương
Không-Thời gian = Không gian + Thời gian

Trên cơ sở này, ta dễ dàng hiểu được một số luận điểm vẫn còn lờ mờ trong Triết học và Vật lý ngày nay, làm tốn rất nhiều giấy mực, như: Không gian là gì? Thời gian là gì? Vật chất là gì? Tại sao nơi nào có vật chất thì nơi đó có không thời gian và ngược lại? Tại sao không gian và thời gian sẽ mất đi nếu Vật chất biến mất? (Bởi vì chúng đều là những mặt không thể tách rời của một Trường khí âm dương). Tại sao Vật chất luôn vận động? (Bởi vì nó có Khí âm-động), Tại sao vật chất tồn tại như những hạt, những thực thể? (Bởi vì nó có Khí dương-tịnh)...
2- Trong Vũ trụ tồn tại một Hệ qui chiếu đứng yên tuyệt đối, chính là Hệ qui chiếu đứng yên so với Tâm Vũ trụ, gọi là Hệ qui chiếu Tuyệt đối.
Đây chính là lý do lý thuyết Vật lý mà tôi đang xây dựng được gọi là Thuyết Tuyệt đối. Sự khẳng định về sự tồn tại của Hễ qui chiếu Tuyệt đối còn có thể được làm sáng tỏ hơn trong những nghiên cứu tiếp theo.
3- Trong quá trình tương tác, Vật chất phân bố trong Vũ trụ với những mật độ khác nhau làm cho Không-thời gian với tư cách là một mặt không thể tách rời vật chất, phản ánh thuộc tính của vật chất, cũng phải khác nhau tương ứng. Thời gian sẽ trôi nhanh chậm khác nhau, khoảng cách cũng dài nhắn khác nhau tùy thuộc vào vật chất. Đặc trưng cho sự khác nhau đó chính là hệ số co dãn không thời gian ζ.
Ý nghĩa của hệ số co dãn không gian chính là độ co của một vi phân độ dài dL khi ta dời nó từ vị trí được chọn với ζ = 1 làm mốc tới vị trí có độ co dãn không gian ζ tương ứng thành dLζ:  ζ = dL/dLζ
Ý nghĩa của hệ số co dãn thời gian là: thời gian tại vị trí có độ co giãn thời gian ζ trôi chậm hơn thời gian tại vị trí có ζ = 1 ζ lần : ζ = dt/dtζ
Do cùng là những thông số phản ánh tương quan âm/dương, chông chịu hiệu ứng của chuyển động nên, trong hệ qui chiếu Tuyệt đối, hệ số co dãn không gian và thời gian bằng nhau (ζ).
Trên cơ sở hiểu rõ vật chất, không gian, thời gian như thế, Thuyết Tuyệt đối cho rằng hệ số co dãn không thời gian ζ là một thông số hết sức cơ bản, xác định thuộc tính của không gian, thời gian và vật chất nên cần hiết đưa vào Hệ qui chiếu khi khảo sát Vật lý.
4- Vật chất bao gồm 2 mặt không thể tách rời là Khí âm, Khí dương, nên:
+ Khí âm vốn động nên làm cho ζ dao động dẫn đến không tời gian và vật chất cũng vận động, rung lắc không ngừng.
+ Khí dương vốn tịnh, luôn chống lại bất kỳ sự thay đổi, biến động nào, dẫn đến một kết luận quan trọng: Vật chất và không thời gian của nó là một khối đàn hồi. Do đó, nó có mật độ vật chất ρ và một suất đàn hồi E* nào đó tương ứng với ζ.


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: 11:51:44 PM Ngày 12 Tháng Tư, 2019 »

Từ những kết luận trên, chúng ta từng bước cùng phát triển những ý tưởng đó trong Thuyết Tuyệt đối như sau:
1. Hệ qui chiếu trong thuyết Tuyệt đối
Trong khoa học hiện đại, đặc trưng của một điểm trong không gian hoàn toàn được xác định bằng vị trí của nó. Vì vậy, ngày nay, giới khoa học thường dùng hệ tọa độ Đề-các gồm 3 trục vuông góc (Ox, Oy, Oz) để xác định vị trí của điểm M tương ứng với 3 thông số tọa độ của nó là x, y, z và ký hiệu là M(x, y, z).
Từ kết luận số 3 rút ra từ chương I ở bài trên, Thuyết Tuyệt đối cho rằng, ngoài vị trí còn có độ co dãn không thời gian ζ tại vị trí ấy mới đủ đặc trưng cho một điểm M trong không gian. Do đó, Thuyết tuyệt đối ngoài dùng một hệ tọa độ Đê-các còn dùng thêm một trường hệ số co dãn không thời gian ζ để xác định điểm M khi chọn ζ tại gốc tọa độ là ζ = ζbase = 1. Như vậy, đặc trưng điểm M gồm 4 thông số tương ứng với 3 thông số tọa độ của nó là x, y, z và 1 thông số độ co dãn không thời gian ζ và ký hiệu là M(x, y, z, ζ).
Hệ qui chiếu như vậy gọi là HQC-ζ.
Khi HQC-ζ đứng yên so với Tâm Vũ trụ thì gọi là HQC-ζ tuyệt đối
Khi HQC-ζ chuyển động so với Tâm Vũ trụ thì gọi là HQC-ζ tương đối.
HQC-ζ có ζ = ζbase = 1 tại mọi vị trí sảy ra quá trình vật lý cần khảo sát gọi là HQC địa phương.
Như vậy, Thuyết Tuyệt đối khảo cứu sự vật nhiều hơn so với khoa học hiện đại một thông số là hệ số co dãn không thời gian ζ, đương nhiên sẽ toàn diện hơn, phản ánh thực tại khách quan chính xác hơn.
Thực ra, khoa học hiện đại cũng đã biết về hệ số co dãn không thời gian ζ từ lâu. Cụ thể, Thuyết Tương đối cho rằng, trong một hệ qui chiếu chuyển động, không gian bị co lại theo phương chuyển động bằng hệ số γ = 1/(1 – β2)1/2, thời gian cũng bị co lại theo tỷ số γ này. Khoa học cũng biết rằng, không thời gian bị co lại khi bị ảnh hưởng của khối lượng cực lớn. Tuy nhiên, do không hiểu về bản chất, không đánh giá được tầm quan trọng của hệ số co dãn không thời gian ζ nên khoa học hiện đại đã bỏ qua, không xét hệ số này như một đặc trưng của không thời gian. Hậu quả là khoa học đang vấp phải nhiều mâu thuẫn, vấn nạn không thể vượt qua mà nhiều tác giả đã đề cập. Trong nỗ lực giải quyết những vấn nạn này, các nhà khoa học đã tưởng tượng và đặt ra rất nhiều giả thuyết, nhiều khi rất khôi hài, hoang tưởng... làm tiêu tốn rất nhiều trí lực và vật lực một cách vô ích, làm chậm bước tiến của nhân loại.
Như phần trên ta đã biết, trong HQC-ζ tuyệt đối, khi ta quan sát thấy một vi phân không-thời gian (dL, dt) tại vị trí có hệ số co dãn không thởi gian là ζ thì thực sự ta đã quan sát một không thời gian có giá trị là (ζdL, dt/ζ) (do cả không gian và thời gian đều đã bị co lại ζ lần). Đó cũng chính là giá trị mà ta quan sát thấy trong  HQC-ζ địa phương của nó.
Như vậy, giá trị thực của một đại lượng vật lý chính là giá trị xác định trong HQC-ζ địa phương nơi sảy ra hiện tượng vật lý đó. Một phương trình vật lý trong HQC-ζ địa phương có hệ số ζ khi chuyển sang HQC-ζ tuyệt đối chỉ cần thay thế dL thành ζdL và dt thành dt/ζ là đủ.
Từ đó suy ra: một đại lượng vật lý với giá trị thực là A tại vị trí ζ thì trong HQC-ζ tuyệt đối có giá trị là a quan hệ với A theo công thức:
A = a ζa(ζ)             (với ζa(ζ) gọi là hàm hiệu chỉnh không-thời gian).
ζa(ζ) là hàm của ζ khi thay đơn vị dài và đơn vị thời gian trong biểu thức đơn vị của A thành ζ và 1/ζ.
Ví dụ: Nếu trong HQC-ζ địa phương hệ số ζ có một vận tốc V thì trong HQC-ζ tuyệt đối sẽ quan sát thấy vận tốc
 v = V/ζ2
Hàm hiệu chỉnh không thời gian của một số đại lượng vật lý:

2. Thuyết Tuyệt đối và vận tốc ánh sáng
Theo kết luận số 4 rút ra từ chương I ở bài trên, Vật chất và không thời gian của nó là một khối đàn hồi. Do đó, nó phải có mật độ vật chất ρ nào đó, một suất đàn hồi E* nào đó tương ứng với ζ.
Theo lý thuyết đàn hồi, vận tốc truyền sóng trong không gian đàn hồi (ví dụ sóng âm trong nước hay không khí) là
v = (E*/ρ)1/2
không thay đổi khi E*/ρ không đổi (khi ζ không đổi, nghĩa là trong HQC-ζ địa phương).
Vận tốc truyền sóng trong HQC-ζ địa phương ta đang sống chính là vật tốc ánh sáng c = 300000 (km/s) vì ánh sáng cũng là một dạng sóng lan truyền trong không gian. Đó chính là tiên đề của Anhxtanh về vận tốc ánh sáng trong chân không của Thuyết Tương đối.
Như vậy, Thuyết Tuyệt đối trong HQC địa phương cũng cho kết quả như Thuyết Tương đối về sự không đổi của vận tốc ánh sáng, nhưng trong Thuyết Tương đối ta phải công nhận nó như một Tiên đề, còn trong Thuyết Tuyệt đối, ta thấy rõ bản chất thực của nó là vận tốc truyền sóng trong môi trường đàn hồi, đó chỉ đơn thuần là một kết luận logic vật lý chứ không phải là một Tiên đề.
Mặt khác, Thuyết Tuyệt đối phủ nhận một chân không, cơ sở của Tiên đề Anhxtanh, mà chỉ rõ, khắp nơi trong Vũ trụ đều tràn ngập vật chất (Khí) với hệ số co dãn không thời gian ζ khác nhau.
Như trên ta đã thấy, trong HQC-ζ địa phương có vận tốc ánh sáng là c thì trong HQC-ζ tuyệt đối, vận tốc ánh sáng tại vị trí có hệ số co dãn không thời gian ζ là:
C = c/ζ2
Điều đó có nghĩa là, trong HQC-ζ tuyệt đối vận tốc ánh sáng tại nơi có hệ số co dãn không thời gian ζ là c/ζ2. Nếu ζ > 1 ta sẽ thấy ánh sáng di chuyển chậm hơn c, nếu ζ < 1 ta sẽ thấy ánh sáng di chuyển nhanh hơn c.
Vì coi không gian là trống rỗng, không thấy được hệ số ζ nên Thuyết Tương đối không thấy được sự khác biệt này của vận tốc ánh sáng.
Sở dĩ ta không quan sát được sự khác biệt này trong không gian ta đang sống là do ζ thay đổi rất nhỏ. Theo tính toán của tôi, cách xa ta khoảng 13 tỷ km về phía Tâm Vũ trụ thì ζ mới thay đổi 0.1%.
3. Mật độ năng lượng, mật độ vật chất trong không gian. Công thức năng lượng của một khối lượng vật chất
Theo kết luận rút ra từ chương I ở bài trên ta đã thấy, Vật chất bao gồm Khí dương – tịnh (có xu hướng co cụm...) - tràn đầy không thời gian, tất nhiên nó sẽ tạo ra một áp suất pm nào đó lên một vi phân thể tích vật chất trong không gian. Áp suất pm này phụ thuộc vào hệ số co dãn không thời gian ζ của môi trường vả mật độ vật chất ρm có trong vi phân không gian đó và gọi là áp suất hấp dẫn. Mật độ ρm và ζ càng lớn thì tính dương (co cụm) càng lớn, dẫn đến pm càng cao. Do tính tịnh thể hiện sự co cum, tập trung ... nên phương của áp suất đó có phương hướng vào vi phân không gian đó. Sự phụ thuộc này có thể theo một hàm số nào đó mà ta khó lòng tính được. Do đó, Thuyết Tuyệt đối đưa ra một Tiên đề cho rằng, đó là phụ thuộc tuyến tính. Vì thế ta có Tiên đề 1:
Áp lực hấp dẫn lên một vi phân thể tích không gian phải tỷ lệ với hệ số co giãn không thời gian môi trường ζ và mật độ vật chất ρm trong bản thân vi phân thể tích ấy:
pm = Kρmζ   (K = const)
Khi mật độ ρm = ρ là mật độ vật chất của môi trường, ta được áp suất của vật chất trong không gian có hệ số co dãn không thời gian ζ là:
p = Kρζ.
Khi tính đến thuộc tính đàn hồi của vật chất, qua một số không lớn biến đồi toán học ta thu được phương trình vi phân của phân bố áp suất p và mật độ vật chất trong không gian là:
dp/p = - dτ
dρ/ρ = - (τ – 1)dτ/τ
Với Q = c2/K = const, τ = Q/ζ
Giải phương trình vi phân trên ta được công thức tính áp suất và mật độ vật chất trong không gian như sau:
p = pmaxe1 – τ
ρ = ρmaxτe1 - τ
Với pmax , ρmax là áp suất và mật độ vật chất trong không gian khi ζ = ζmax = Q hay τ = 1
Suy ra: pmax = KρmaxQ =>
pmax = c2ρmax
Theo lý thuyết đàn hồi, ta cũng có, áp suất p chính bằng mật độ năng lượng của môi trường. Suy ra, năng lượng tiềm tàng của thể tích V vật chất có độ co dãn không thời gian ζ là: E = Vp = Vpmaxe1 – τ = V c2ρmaxe1 – τ = Vc2ρ/τ =mc2/τ =>
E = mc2
Trong trường hợp ζ = ζmax = Q hay τ = 1 thì:
E = mc2
Đó chính là công thức năng lượng nổi tiến của Anhxtanh. Ta cũng dễ dàng suy ra, hạt vật chất thông thường chính là vật chất khi có ζ = ζmax = Q hay τ = 1.
Như vậy, các bạn cũng thấy, Thuyết Tuyệt đối dễ dàng chứng minh công thức E = mc2/τ còn tổng quát hơn công thức năng lượng nổi tiếng của Anhxtanh, hay công thức E = mc2 của Anhxtanh chỉ là trường hợp riêng khi τ = 1.
Ngoài ra, Thuyết Tuyệt đối còn đưa ra công thức tính mật độ năng lượng (p) và mật độ vật chất (ρ) trong không gian như trên mà khoa học hiện đại ngày nay còn chưa biết tới.


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #3 vào lúc: 08:37:09 AM Ngày 13 Tháng Tư, 2019 »

Thưa các bạn !
Để nội dung không quá dài, khó theo dõi, trước khi pos tiếp, tôi xin tóm tắt những đặc điểm đã được trao đổi của Thuyết Tuyệt đối trong sự so sánh với khoa học hiện đại để anh chị em dễ dàng góp ý, phản biện như sau:

- Thuyết Tuyệt đối xác định rằng, Vũ trụ là một Trường khí âm dương bao gồm 2 mặt không thể tách rời là Khí (Vật chất) và Không-thời gian. Đến lượt nó, Khí (Vật chất) lại bao gồm Khí âm, Khí dương, Không-thời gian bao gồm không gian, thời gian và chúng cũng không thể tách rời. Vũ trụ phân bố không đều, vận động không ngừng quanh một Tâm Vũ trụ đứng yên  tuyệt đối. Một quan niêm như thế cho phép thấy rõ bản chất, thuộc tính của vật chất, không gian, thời gian và quan hệ hữu cơ giữa chúng.
- Trên cơ sở đó, Thuyết Tuyệt đối xác định hệ số co dãn không thời gian ζ như một thông số đặc trưng cho vật chất và không thời gian, bổ xung vào hệ qui chiếu vât lý ta được HQC-ζ
- Thuyết Tuyệt đối chứng minh vận tốc ánh sáng là c không thay đổi trong HQC-ζ địa phương, và chỉ rõ, vận tốc ánh sáng phụ thuộc ζ trong HQC-ζ tuyệt đối theo công thức:
Cζ = c/ζ2
- Thuyết Tuyệt đối đưa ra Tiên đề về áp lực vật chất trong không gian tác động lên một vi phân thể tích theo công thức:
pm = Kρmζ
và suy ra áp suất và mật độ vật chất trong không gian như sau:
p = pmaxe1 – τ
ρ = ρmaxτe1 - τ
Từ đây, Thuyết Tuyệt đối dễ dàng suy ra công thức năng lượng
E = mc2
mà công thức nổi tiếng của Anhxtanh E = mc2 chỉ là trường hợp riêng khi τ = 1 trong hạt vật chất.


Những kết quả trên là rất cơ bản và hoàn toàn mới mẻ đối với khoa học hiện đại
Thân ái !


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: 09:41:23 PM Ngày 13 Tháng Tư, 2019 »

4. Lực tác dụng lên hạt vật chất trong không gian
a. Lực hấp dẫn
Như trên đã biết, Vật chất tràn đầy không gian gây nên một áp lực p = pmaxe1 - τ . Áp lực này tạo nên một lực tác dụng lên một hạt vật chất khối lượng m trong không gian gọi là lực hấp dẫn Phd có phương hướng tới nơi mật độ vật chất lớn hơn. Lực hấp dẫn này tỷ lệ với diện tích thiết diện S của hạt vật chất và hiệu số áp lực không gian giữa 2 phía của thiết diện đó. Suy ra:


=> Đối với hạt vật chất trong không gian có ζ > ζ* = 0.284Q hay τ < τ* = 3.5128 thì lực đẩy Archimed lớn hơn lực hút hấp dẫn. Khi đó, hạt vật chất thay vì bị hút vào theo chiều tăng dần hệ số co giãn không thời gian ζ thì sẽ bị đẩy ra theo chiều ngược lai.
Lực đẩy Archimed trong không gian là phát hiện thú vị mà khoa học ngày nay còn chưa biết đến. Ta sẽ trở lại vấn đề này trong các mục sau để thấy được ý nghĩa của nó.



Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #5 vào lúc: 08:39:46 PM Ngày 14 Tháng Tư, 2019 »

5. Trường khí âm dương xung quanh một hạt vật chất
a. Hệ số co giãn không thời gian xung quanh một hạt vật chất
Như đã phân tích ở chương I, hạt vật chất khối lượng m, bán kính R0 là một mảnh vỡ của khối Tiên thiên chưa phân rã hết có trường khí âm dương bên trong hạt với độ co giãn không thời gian ζ = ζmax = Q, τ = 1, mật độ khối lượng ρmax, mật độ năng lượng pmax, năng lượng toàn phần E = mc2. Khí dương trong hạt vật chất rất mạnh, Khí âm rất yếu, tương quan âm/dương nhỏ tạo nên không-thời gian xung quanh hạt vật chất một hệ số co giãn không thời gian ζ. Ở gần hạt vật chất, do Khí dương rất mạnh nên ζ rất lớn và suy giảm nhanh chóng khi khoảng cách R tới hạt vật chất tăng lên (ζ = 0 khi R → ∞). Hạt vật chất càng lớn, chứng tỏ Khí dương càng nhiều làm cho tốc độ suy giảm ζ theo khoảng cáh tới hạt vật chất càng nhỏ.
Như vậy, độ co giãn không thời gian ζ quanh một hạt vật chất tỷ lệ với khối lượng trường khí âm dương trong hạt và suy giảm theo khoảng cách tăng dần tới hạt vật chất. Nhưng bên trong hạt vật chất, độ co dãn không thời gian lớn nhất, luôn như nhau và bằng ζ = ζmax = Q như trong thời Tiên thiên






Qua đồ thị chúng ta thấy, khi R > R* = R0 + 2.521Δm, lực hấp dẫn lớn hơn lực Acsimed, tổng lực hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm là lực hút về phía hạt vật chất. Khi R < R0 + 2.521Δm, lực hấp dẫn nhỏ hơn lực Archimed, do đó, hạt chất điểm bị đẩy ra. Hơn nữa, lực đẩy lớn nhất lớn hơn nhiều so với lực hút lớn nhất. Đó chính là nguồn gốc của lực đẩy làm cho các hạt vật chất không thể hòa vào nhau và cũng chính là lực đẩy làm Vũ trụ nở ra mãi mãi cho tới khi nó nhạt dần rồi mất hẳn nhường chỗ cho trạng tái mới của Thực tại là Thái cực như đã phân tích ở chương I.


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: 10:14:31 AM Ngày 16 Tháng Tư, 2019 »

Các bạn thân mến!
Cho đến nay, tôi đã tóm lược được 5 phần của thuyết Tuyệt đối như sau

1. Hệ qui chiếu trong thuyết Tuyệt đối
2. Thuyết Tuyệt đối và vận tốc ánh sáng
3. Mật độ năng lượng, mật độ vật chất trong không gian. Công thức năng lượng của một khối lượng vật chất
4. Lực tác dụng lên hạt vật chất trong không gian
     a. Lực hấp dẫn
     b. Lực Archimed
c. Tổng lực tác dụng vào hạt vật chất trong không gian
5. Trường khí âm dương xung quanh một hạt vật chất

     a. Hệ số co giãn không thời gian xung quanh một hạt vật chất
     b. Lực tác dụng vào một khối lượng dạng chất điểm trong không gian quanh một hạt vật chất

          Lực hấp dẫn hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
          Lực Archimed hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
          Tổng lực hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm


Thỉnh thoảnh phải tổng kết lại như thế cho đỡ nặng!
Hôm nay tôi tiếp tục giới thiệu mục tiếp theo: Chuyển động của hạt vật chất. Mục này khá dài, động chạm trực tiếp tới Thuyết tương đối của A.Einstein, gồm những mục nhỏ sau:


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #7 vào lúc: 10:42:20 AM Ngày 16 Tháng Tư, 2019 »

6. Chuyển động của hạt vật chất
     6.1. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tuyệt đối
          Giả sử trong HQC-ζ tuyệt đối, một hạt vật chất tại vị trí có độ co giãn không thời gian ζ, chuyển động dưới tác động của lực F, trên một vi phân khoảng cách dl tạo nên một công dA tích lũy trong nội năng E của nó, theo phương trình:
          dE = dA = Fdl
          Mặt khác: F=dp/dt  (p: động lượng hạt vật chất: p = mv) =>
          dE = (dp/dt)dl = vdp
          Như đã biết ở mục 1, giá trị đại lượng vật lý A tại vị trí có độ co dãn không thời gian ζ trong HQC-ζ tuyệt đối là a theo công thức: a = A/ζa(ζ). Theo công thức năng lượng A = mc2 và theo bảng hàm hiệu chỉnh không thời gian ở mục 1, thì đối với năng lượng ζa(ζ) = ζ4 . Do đó năng lượng toàn phần E của hạt vật chất xét trong HQC-ζ tuyệt đối là:
          E = mc24
          Mặt khác, cũng theo mục 1như ta đã biết ở trên, đối với hạt vật chất trong HQC-ζ tuyệt đối, tại vị trí có độ co giãn không thời gian ζ vận tốc truyền sóng C có dạng:
          C = c/ζ2
          Do đó: E = mC2 => m = E/C2 => p = mv = Ev/C2 =>
          dE = vdp = vd(Ev/C2) = (v/C)d(Ev/C)
          Đặt:  β = v/C  gọi là vận tốc tương đối của hạt vật chất
          Ta được:
          dE = βd(Eβ) = β(Edβ + βdE) => dE(1 – β2) = Eβdβ
          dE/E = βdβ/(1 – β2) = (1/2)dβ2/(1 – β2) = - (1/2)d(1-β2) /(1 – β2) =>
          dE/E = - dγ/γ   với  γ = 1/(1 – β2)1/2
          Để phương trình có nghĩa thìγ: γ ≥ 1
          Giải phương trình vi phân trên ta được:
          E = γE00
          Ở đó, E0 là năng lượng toàn phần của hạt vật chất khi v = v0 hay β = β0 => γ0 = 1/(1 – β0 2)1/2 trong HQC-ζ tuyệt đối.
          Khi v0 = 0 => γ0 = 1 => năng lượng toàn phần của hạt vật chất nhỏ nhất khi nó đứng yên trong HQC-ζ tuyệt đối.
          Công thức γ cho ta thấy, 1 là giá trị giới hạn của vận tốc tương đối β của hạt vật chất, hay vận tốc truyền sóng c là giới hạn của vận tốc trong HQC-ζ địa phương, C = c/ζ2 là giới hạn của vận tốc trong HQC-ζ tuyệt đối của hạt vật chất tại vị trí có độ co dãn không thời gian ζ
         Trong HQC-ζ tuyệt đối, vận tốc chuyển động của hạt vật chất tại vị trí có độ co giãn không thời gian ζ không thể vượt quá C = c/ζ2.
     6.2. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối
           6.2.a. Không gian được bảo toàn trong HQC-ζ tương đối
          Hai hệ qui chiếu (HQC) chuyển động so với nhau có nghĩa là, mọi điểm đứng yên trong HQC này đều chuyển động với cùng một vận tốc khi quan sát từ HQC kia. Định nghĩa này không  phụ thuộc chuyển động đó có gia tốc hay không.
          Như vậy, nếu quan sát từ HQC-ζ tuyệt đối, mọi điểm đứng yên trong HQC-ζ tương đối đều chuyển động với vận tốc như nhau, bất kể là chuyển động đó có gia tốc hay chuyển đông thẳng đều.
          Xét một HQC-ζ tương đối chuyền động so với HQC-ζ tuyệt đối với vận tốc tăng dần từ 0. Theo định nghĩa trên, điều đó có nghĩa là, trong suốt quá trình tăng vận tốc, 2 điểm đứng yên A, B bất kỳ trong HQC-ζ tương đối đều chuyển động với vận tốc như nhau khi quan sát từ HQC-ζ tuyệt đối (dấu “*” chỉ đối tượng được quan sát trong HQC-ζ tuyệt đối):
          v*A = v*B => v*A - v*B = 0 => v*AB = 0 => d(A*B*)/dt = 0 =>
          d(A*B*) = 0 =>
          A*B* = const
          Điều đó chứng tỏ rằng, trong suốt quá trình tăng vận tốc từ 0, quan sát từ HQC-ζ tuyệt đối, khoảng cách AB giữa 2 điểm đứng yên trong HQC-ζ tương đối  không thay đổi. Khoảng cách đó cũng chính bằng khoảng cách của chúng khi vận tốc chuyển động bằng 0, hay trong  HQC-ζ tuyệt đối.
          Nói cách khác, hệ số co giãn không gian được bảo toàn trong HQC-ζ tương đối, hay chuyển động của HQC không làm thay đổi hệ số co dãn không gian. (Đó là điểm khác nhau mấu chốt giữa khảo sát của chúng ta và Thuyết tương đối, vì theo Thuyết tương đối, không gian theo phương chuyển động sẽ bị co lại.)



Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #8 vào lúc: 01:28:13 PM Ngày 16 Tháng Tư, 2019 »




Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #9 vào lúc: 02:00:41 PM Ngày 16 Tháng Tư, 2019 »

https://imgur.com/ZXFY6Rs


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #10 vào lúc: 02:13:59 PM Ngày 16 Tháng Tư, 2019 »

Nội dung mục 6:
6. Chuyển động của hạt vật chất
     6.1. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tuyệt đối
     6.2. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối
          6.2.a. Không gian được bảo toàn trong HQC-ζ tương đối
          6.2.b. Hệ số co dãn thời gian γt trong HQC-ζ tương đối
          6.2.c. Sơ đồ, tính toán vận tốc chuyển động trong các HQC
          6.2.d. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối
          6.2.e. Chuyển đổi tọa độ trong HQC-ζ tương đối

     Các bạn có thể thấy rõ, mục này có nhiều nội dung phản bác lại Thuyết Tương đối của Anhxtanh một cách chắc chắn và tích cực. Đồng thời cũng thấy rất sự khó khăn khi chứng minh được sai lầm của Thuyết Tương đối bằng thực nghiệm một cách thông thường như đo vận tốc ánh sáng hay phát hiện sóng hấp dẫn ... Căn cứ vào những luận điểm của Thuyết Tuyệt đối, ta mới có thể tìm ra những thực nghiệm chúng tỏ sự không phù hợp của Thuyết Tương đối.


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #11 vào lúc: 03:21:46 PM Ngày 16 Tháng Tư, 2019 »

Bản post trước khó xem quá, các bạn thử bản post này xem có tốt hơn không

hoặc
https://imgur.com/r7FEshx


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #12 vào lúc: 03:35:53 PM Ngày 16 Tháng Tư, 2019 »

Như vậy, các bạn đã xem các nội dung sau:

* Sự hình thành, phát triển của Vũ trụ
1. Hệ qui chiếu trong thuyết Tuyệt đối
2. Thuyết Tuyệt đối và vận tốc ánh sáng
3. Mật độ năng lượng, mật độ vật chất trong không gian. Công thức năng lượng của một khối lượng vật chất
4. Lực tác dụng lên hạt vật chất trong không gian
     a. Lực hấp dẫn
     b. Lực Archimed
     c. Tổng lực tác dụng vào hạt vật chất trong không gian
5. Trường khí âm dương xung quanh một hạt vật chất
     a. Hệ số co giãn không thời gian xung quanh một hạt vật chất
     b. Lực tác dụng vào một khối lượng dạng chất điểm trong không gian quanh một hạt vật chất
          Lực hấp dẫn hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
          Lực Archimed hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
          Tổng lực hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
6. Chuyển động của hạt vật chất
     6.1. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tuyệt đối
     6.2. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối
          6.2.a. Không gian được bảo toàn trong HQC-ζ tương đối
          6.2.b. Hệ số co dãn thời gian γt trong HQC-ζ tương đối
          6.2.c. Sơ đồ, tính toán vận tốc chuyển động trong các HQC
          6.2.d. Chuyển động của hạt vật chất trong HQC-ζ tương đối
          6.2.e. Chuyển đổi tọa độ trong HQC-ζ tương đối
[/i]

Những mục tiếp theo ta sẽ nghiên cứu vấn đề sóng/hạttính bất định của thế giới vật chất.



Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #13 vào lúc: 08:48:09 PM Ngày 17 Tháng Tư, 2019 »


hoặc
https://imgur.com/gjjcbHR
     Hệ phương trình vi phân tìm hàm trung gian ϕ có vai trò gần giống như phương trình Schrödinger trong cơ học lượng tử, nhưng hơi khác ở một số điểm:
          + Thứ nhất là về phương trình: rõ ràng các hệ số khác nhau, cách tham gia biểu thức trường thế U vào phương trình là không giống nhau. Các thông số về tần số ω, hệ số k cũng khác. Lý do ở đây là chúng ta nhất quán nguyên lý tần số f là thông số thể hiện mức độ biến đổi theo thời gian của hạt vật chất phải tỷ lệ với cường độ nguyên nhân gây nên chúng là véc tơ động lượng p. Điều này dẫn đến λ = βh/p. Còn Broglie không xuất phát từ nguyên lý này mà qui nạp từ công thức năng lượng hạt ánh sáng E = hf nên cho rằng λ = h/p. Tuy nhiên, những khảo sát thực nghiệm không mấy khác biệt do vận tốc các hạt dùng để kiểm chứng khá cao (β lớn ≈ 1) .
          + Thứ hai, về ý nghĩa: Hàm trung gian ϕ dùng để tính toán hàm sóng năng lượng Eđ(t) = Kψ với ý nghĩa năng lượng vật lý thực, còn hàm sóng Schrödinger được coi (một cách gán ghép) là hàm phân bố xác suất xuất hiện hạt vật chất.
          + Thứ ba, đối với vận tốc rất cao, hàm Schrödinger không dùng được do công thức năng lượng E = p2/2m sẽ không đúng trong miền tốc độ cao. Trong trường hợp này, phương trình Schrödinger được thay bằng phương trình Dirac. Còn hàm trung gian ϕ có thể áp dụng cho mọi trường hợp, từ vận tốc cho tới khối lượng  của hạt vật chất.
          + Thứ tư, phương trình Schrödinger được coi như một tiên đề, không chứng minh, nhưng ở đây, hàm ϕ không phải là tiên đề, mà là một hệ quả suy luận có logic khoa học như các bạn đã thấy.


Logged
TQTQTQTQ
Thành viên triển vọng
**

Nhận xét: +0/-0
Cảm ơn
-Đã cảm ơn: 0
-Được cảm ơn: 5

Offline Offline

Bài viết: 63


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #14 vào lúc: 09:48:15 PM Ngày 18 Tháng Tư, 2019 »

8. Tính bất định của thế giới vật chất
     a. Động tính của không thời gian
          Trong chương I, ta đã biết, vật chất chính là Khí, gồm khí dương và khí âm trong không thời gian.
          - Khí dương, như trên đã biết, đặc trưng là tính tịnh được thể hiện như khả năng co cụm thành những trung tâm có mật độ trường khí âm dương đậm đặc hơn những vùng lân cận, với hệ số co giãn không thời gian ζ.
          - Khí âm đặc trưng là cho tính động, hay sự vận động trong không thời gian. Đối với một đơn vị thể tích trường khí âm dương đứng yên, động tính này thể hiện giống như sự dao động quanh vị trí cân bằng của từng vi phân trường khí âm dương gây nên một mật độ nội động lượng σ nào đó. Sự dao động này là một rung động tự thân theo mọi phương của trường khí âm dương. Năng lượng do nội động lượng này sinh ra hàm chứa trong một đơn vị thể tích chính là mật độ năng lượng của trường khí âm dương.
          Như phần trước ta đã biết, quan hệ giữa động lượng p và động năng E do động lượng đó gây nên thể hiện qua công thức: E = pc. Vì thế, quan hệ giữa mật độ nội động lượng σ và mật độ năng lượng p trường khí âm dương sẽ là:

          Động lượng này phụ thuộc vào khoảng cách tới hạt vật chất, đạt giá trị cao nhất khi δ = 0 là:  pmax = mc.
          Sở dĩ có sự “rung lắc” này là do thuộc tính “động” của Khí âm trong không thời gian đó làm cho hệ số co giãn không thời gian ζ giao động quanh giá trị trung bình, dẫn đến vị trí, thời gian và tiếp theo là vận tốc của hạt vật chất trong không gian đó dao động.
          Như vậy, một hạt vật chất trong không gian, do bị động tính không gian đó và động tính của bản thân hạt vật chất “rung lắc” liên tục, đồng thời bản thân không gian đó cũng không cố định mà cũng liên tục giao động co giãn theo động tính của nó, vì thế chúng ta không thể xác định vị trí, thời gian chính xác của hạt vật chất trong không thời gian.
          Vì thế, những giá trị về vị trí (tọa độ) cũng như động lượng (hay mọi đại lượng vật lý có thứ nguyên khác) mà chúng ta đo được chỉ là những giá trị trung bình mà thôi, giá trị chính xác, tức thời của chúng mang tính bất định, xác suất, ngẫu nhiên rất cao.
          Nếu chúng ta cố tình khống chế vị trí hạt vật chất trong không gian với độ chính xác  δ = (R – R0)/Δm nào đó (nói cách khác, chúng ta tiến hành đo vị trí của hạt vật chất với độ chính xác δ) thì chúng ta phải khắc phục một động lượng “rung lắc” hạt vật chất có xu hướng thoát ra khỏi sự khống chế đó là p (đó chính là sai số, hay độ bất định của động lượng hạt vật chất). Động lượng này, như đã tính toán, tăng lên rất nhanh theo hàm mũ khi δ giảm: .=> p đạt cực đại khi δ = 0 là pmax = mc. Đó là giá trị cực lớn, vận tốc c làm cho hệ số γ tiến tới ∞ => E = γE0 → ∞.
          Nói các khác, năng lượng khống chế vị trí hạt vật chất với độ chính xác δ = 0 trong quá trình đo đạc là vô cùng lớn, không thể tiến hành trong thực tế.
          Đồng thời bản thân những thiết bị đo của chúng ta cũng cấu tạo từ những hạt vật chất có vị trí cũng “rung lắc” liên tục, do đó, việc đo đạc, tiên đoán vị trí của hạt vật chất với độ chính xác tuyệt đối là bất khả thi, cũng giống như đo đạc, tiên đoán giá trị động lượng hay bất kỳ đại lượng vật lý có thứ nguyên nào đó của nó.
          Đó chính là tính bất định của thế giới vật chất, vi mô cũng như vĩ mô, mà nguyên nhân là động tính của không thời gian do Khí âm của trường khí âm dương gây nên. Đó là thuộc tính tự nhiên, nội tại của thế giới vật chất.
          Tuy nhiên, trong thế giới Vĩ mô, tương quan độ “rung lắc” của không thời gian do động tính của nó gây nên, so với độ lớn của các đối tượng khảo sát là rất nhỏ, do đó, tính bất định trong thế giới vĩ mô có thể bỏ qua mà không ảnh hưởng gì nhiều tới kết quả nghiên cứu. Ngược lại, trong thế giới vi mô, tương quan này khá lớn so với kích thước các đối tượng khảo sát, nên có vai trò rất quan trọng trong những nghiên cứu vật lý, không thể bỏ qua. Nhưng về bản chất, tính bất định hiện diện trong toàn thế giới vật chất cả vi mô lẫn vĩ mô tuy chúng có mức ảnh hưởng khác nhau tới vận động, phát triển của sự vật.




Logged
Tags:
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
sch

Những bài viết mới nhất
Những bài viết mới nhất
 
Chuyển tới:  


Tắt bộ gõ tiếng Việt [F12] Bỏ dấu tự động [F9] TELEX VNI VIQR VIQR* kiểm tra chính tả Đặt dấu âm cuối
Powered by SMF 1.1.11 | SMF © 2006, Simple Machines LLC © 2006 - 2012 Thư Viện Vật Lý.