Giai Nobel 2012
12:41:54 AM Ngày 20 Tháng Mười, 2019 *

Chào mừng bạn đến với Diễn Đàn Vật Lý.

Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Hay bạn đã đăng ký nhưng cần gửi lại email kích hoạt tài khoản?
Vui lòng nhập tên Đăng nhập với password, và thời gian tự động thoát





Lưu ý: Đây là diễn đàn của Thư Viện Vật Lý. Tài khoản ở Diễn Đàn Vật Lý khác với tài khoản ở trang chủ Thuvienvatly.com. Nếu chưa có tài khoản ở diễn đàn, bạn vui lòng tạo một tài khoản (chỉ mất khoảng 1 phút!!). Cảm ơn các bạn.
Phòng chát chít
Bạn cần đăng nhập để tham gia thảo luận
Vật lý 360 Độ
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 86)
16/10/2019
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 85)
16/10/2019
Tương lai của tâm trí - Michio Kaku (Phần 26)
14/10/2019
Tương lai của tâm trí - Michio Kaku (Phần 25)
14/10/2019
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 54)
01/10/2019
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 53)
01/10/2019

follow TVVL Twitter Facebook Youtube Scirbd Rss Rss
  Trang chủ Diễn đàn Tìm kiếm Đăng nhập Đăng ký  


Quy định cần thiết


Chào mừng các bạn đến với diễn đàn Thư Viện Vật Lý
☞ THI THỬ THPT QG LẦN 8 MÔN VẬT LÝ 2019 - 21h00 NGÀY 9-6-2019 ☜

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 71 
 vào lúc: 09:54:20 PM Ngày 21 Tháng Năm, 2019 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     Nội dung đã pos:

          3. Mật độ năng lượng, mật độ vật chất trong không gian. Công thức năng lượng của một khối lượng vật chất
          4. Lực tác dụng lên hạt vật chất trong không gian
               a. Lực hấp dẫn
               b. Lực Archimed
               c. Tổng lực tác dụng vào hạt vật chất trong không gian
          5. Trường khí âm dương xung quanh một hạt vật chất
               a. Hệ số co giãn không thời gian xung quanh một hạt vật chất
               b. Lực tác dụng vào một khối lượng dạng chất điểm trong không gian quanh một hạt vật chất
                    Lực hấp dẫn hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
                    Lực Archimed hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm
                    Tổng lực hạt vật chất tác dụng vào một khối lượng m dạng chất điểm


    Bình luận 2
          1. Chúng ta đã chỉ ra rằng, Tiên đề về vận tốc ánh sáng của Einstein chỉ là một hệ quả logic trong lý thuyết tuyệt đối và chỉ đúng trong HQC-ζ địa phương, xuất phát từ tính đàn hồi của vật chất. Chúng ta lại đưa ra một Tiên đề về Áp lực hấp dẫn lên một hạt vật chất phải tỷ lệ với hệ số co giãn không thời gian môi trường ζ và mật độ trường khí âm dương trong bản thân hạt vật chất ρm
                    pm = Kρmζ
            Tuy nhiên, Tiên đề này được phân tích tính logic của nó, do Khí dương tạo nên chứ không phải là một kết luận bất ngờ như “từ trên Trời rơi xuống”. Bản chất của nó là khẳng định sự phụ thuộc tuyến tính của áp lực p vào cường độ Khí dương.
          2. Việc đưa hệ số co giãn không thời gian ζ vào khi khảo sát vật lý, qua một số tính toán đơn giản, ta tính được mật độ vật chất phân bố trong không gian tương ứng với các hệ số ζ khác nhau, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đánh giá vai trò của hệ số này trong nghiên cứu vật lý. Nó chứng minh được sự liên quan hữu cơ giữa vật chất và không thời gian. Cứ nơi nào có không gian, nơi đó có mật độ khối lượng vật chất tương ứng với độ co dãn ζ nào đó. Nó cho công thức tính chính xác mật độ khối lượng vật chất trong không gian, kể cả cái thường được gọi là chân không.
                    ρ = ρmax.τ.e(1- τ)
          Công thức này là cơ sở cho những tính toán định lượng của các quá trình vật lý trong thuyết tuyệt đối:
               - Từ công thức tính mật độ vật chất tùy thuộc vào ζ, ta thấy sự tồn tại của giá trị mật độ vật chất lớn nhất ρmax, tương ứng với ζmax để xác định sự khác nhau giữa hạt vật chất có hệ số co giãn không thời gian  ζmax, mật độ ρmax với không gian vật chất có hệ số co dãn không thời gian ζ, mật độ ρ.
               
               - Công thức quan hệ mật độ trường khí âm dương với độ co giãn không thời gian ζ có 2 pha: một pha mật độ trường khí âm dương tăng từ vô cùng nhỏ tới cực đại, sau đến một pha giảm xuống tới vô cùng nhỏ cho ta khả năng giải thích sự hình thành và phát triển của Vũ trụ một cách định lượng sau khi đã mô tả một cách định tính ở chương trước như sau:
               - Qua đồ thị trên chúng ta thấy, khi Vũ trụ mới nảy sinh do một đột  biến lượng tử cực kỳ nhỏ bé từ Thái cực, thành một vi phân trường khí âm dương gồm “Khí” trong vi phân không gian cực nhỏ, thời gian trôi vô cùng chậm chạp. Sự trôi chậm chạp của thời gian chứng tỏ hệ số ζ cực lớn (dtζ = dt/ζ) hay τ = Q/ζ cực nhỏ. Theo công thức mật độ trường khí âm dương ở trên ta thấy, lúc này, mật độ vật chất ρ của Vũ trụ cũng rất nhỏ, và kết quả là Vũ trụ khởi nguyên cực kỳ nhỏ cả về kích thước cũng như khối lượng.
               - Theo qui luật tương quan âm/dương luôn tăng, nên theo thời gian, ζ giảm dần (hay τ tăng dần) làm cho mật độ vật chất ρ tăng lên tới ρmax theo phương trình:
                    ρ = ρmax.τ.e(1- τ)
                Đó là thời kỳ Tiên thiên Vũ trụ. Thời kỳ này quan hệ Tam tài đồng tương sinh, âm dương thống nhất nên mật độ ρ của trường khí âm dương trong Vũ trụ Tiên thiên rất đồng nhất và tốc độ tăng trưởng cao.
               - Khi ρ tăng tới giá trị ρ = ρmax, tương quan âm dương tiếp tục tăng, ζ tiếp tục giảm (τ tăng), thời gian tiếp tục trôi về phía trước, nhưng mật độ ρ bắt đầu giảm. Nhưng do tác động của khí dương bảo toàn trạng thái hiện tại nên sự giảm của mật độ ρ không được diễn ra một cách từ từ tại mọi vị trí mà như một sự tan vỡ khối Tiên thiên Vũ trụ, bắt đầu từ những “vết nứt” xuất hiện ngẫu nhiên khi ζ giảm, thành những mảnh to nhỏ khác nhau, có mật độ như trong khối Tiên thiên ρ = ρmax và không gian giữa chúng có mật độ thấp hơn. Những mảnh vỡ đó tiếp tục va chạm và tương tác hình thành Vũ trụ Hậu thiên ngày nay như ta thấy. Những mảnh nhỏ tạo thành những hạt vật chất vi mô, những mảnh lớn tạo thành những hố đen Vũ trụ. Đặc điểm chung của những mảnh vỡ đó là mật độ trường khí âm dương cực đại ρ = ρmax  và độ co giãn không thời gian ζ = ζmax = Q.
               - Tương quan âm/dương tiếp tục tăng làm cho ζ giảm (τ tăng) dẫn đến sự giảm dần của mật độ ρ, và tăng dần kích thước Vũ trụ, nói cách khác, Vũ trụ tiếp tục nở ra. Nhưng, trong quá trình đó, mật độ trường khí âm dương bên trong những “mảnh vỡ” không giảm đi do tác động bảo toàn của Khí dương, mà chỉ giảm ở vùng ngoại biên do tương quan âm/dương lớn hơn, làm cho những “mảnh vỡ” đó giảm dần kích thước cho tới khi biến mất.
               - Mật độ ρ tiếp tục giảm, đến một lúc nào đó sẽ vô cùng nhỏ bé trong toàn Vũ trụ, hay trường khí âm dương mờ nhạt dần rồi mất hẳn và đương nhiên, không thời gian với tư cách là một yếu tố không thể tách rời của trường khí âm dương cũng dần dần tiêu biến theo. Vũ trụ trở về trạng thái Thái cực và một quá trình mới lại bắt đầu với một đột biến lượng tử nào đó từ Thái cực, sinh ra một đốm trường khí âm dương mới dần phát triển thành một Vũ trụ mới. Do đột biến lượng tử là một hiện tượng ngẫu nhiên, nên Vũ trụ mới đó không nhất thiết giống như Vũ trụ chu kỳ trước, nhưng nguyên lý hình thành và phát triển của chúng như mô tả ở trên, vẫn như nhau.
          3. Qua công thức xác định áp suất p trong trường khí âm dương mới tìm được, chúng ta cũng thấy tính tịnh của khí dương thể hiện ra như một áp lực nội tại chống phân tán trong của trường khí âm dương. Áp lực đó cũng chính là mật độ năng lượng của trường khí âm dương trong không thời gian mà nó hiện hữu.
                p = pmaxe(1- τ)
          Ở đây, chúng ta đã đưa ra công thức phân bố khối lượng và năng lượng của trường khí âm dương trong không thời gian theo ζ hoặc τ. Ta đã chứng minh được, năng lượng tiềm tàng của một khối lượng vật chất không chỉ tỷ lệ thuận với khối lượng m mà còn tỷ lệ nghịch với độ co giãn không thời gian τ của nó:
               E = mc2
          Đối với hạt vật chất, τ = 1 nên công thức trở thành E = mc2 là công thức nổi tiếng của Einstein. Như vậy, công thức E = mc2 của Einstein chỉ là trường hợp riêng của chúng ta khi τ = 1.
               Nếu để ý rằng, công thức này của Einstein được đưa ra như một đề xuất, mà cho tới nay sự chứng minh công thức này một cách rốt ráo cũng còn nhiều vấn đề phải bàn, thì mới thấy ý nghĩa của việc ta không chỉ chứng minh được một công thức tổng quát hơn công thức của Einstein mà còn chỉ ra bản chất của năng lượng này là khả năng biến đổi của trường khí âm dương như đã phân tích ở chương I. Không thể có chuyện khối lượng và năng lượng có thể chuyển hóa cho nhau như một số nhà khoa học đề xuất, mà chỉ có thể nói, năng lượng có thể làm “gom” một khối lượng Khí đủ lớn vốn có trong không gian để ζ = ζmax = Q, tạo thành một hạt vật chất, chứ không phải bản thân năng lượng đó biến thành khối lượng hạt vật chất đó.
               Mặt khác, “Khí” tràn ngập khắp nơi trong Vũ trụ. Cái gọi là “chân không tuyệt đối” của chúng ta cũng là tràn đầy Khí với độ co giãn không thời gian ζ = 1 (do ta lấy vị trí của ta làm cơ sở HQC-ζ tuyệt đối). Do đó, mật độ vật chất của nó là ρ = ρ0 = Qρmax/eQ-1 , áp suất và mật độ năng lượng là p = p0 =c2ρmax/eQ-1 = pmax/eQ-1. Do Q khá lớn nên ρ0, p0 rất nhỏ làm chúng ta không cảm giác được sự hiện diện của nó. Tuy ta không cảm nhận được nhưng “nó” vẫn hiện diện có và còn thể hiện những hiệu ứng cho thấy sự tồn tại của mình.
               4. Mục này tính toán và giải thích rõ ràng nguồn gốc và công thức tính lực hấp dẫn là xu thế do khí dương với “tính tịnh” sinh ra, thể hiện qua sự phân bố không đều của độ co giãn không thời gian, đồng thời còn bổ sung một lực hoàn toàn mới đối với khoa học hiện đại, đó là lực Archimed trong không gian. Lực này, trong điều kiện bình thường nói chung rất nhỏ nên bị bỏ qua. Nhưng tại những vị trí có độ co giãn không thời gian lớn, nó rất đáng kể và khi τ < τ* = 3.5128, nó còn lớn hơn lực hấp dẫn. Sự hiện diện của lực Archimedes làm ảnh hưởng lớn tới tổng lực tác dụng lên một hạt vật chất trong không gian tạo nên tình thế các hạt vật chất hút nhau ở khoảng cách lớn khi lực hấp dẫn lớn hơn lực Archimed, nhưng đẩy nhau rất mạnh ở khoảnh cách nhỏ khi lực Archimedes lớn hơn lực hấp dẫn. Công thức và đồ thị tổng lực tác dụng vào hạt vật chất trong không gian thể hiện rõ điều đó. Chính lực đẩy Archimed này là nguyên nhân làm cho các hạt vật chất không bị rơi vào nhau, đồng thời là lực giúp cho Vũ trụ chiến thắng lực hấp dẫn và nở ra mãi mãi.
                Sau hhi đưa ra khái niệm độ co giãn không thời gian, chúng ta đã tính toán và mô tả khá rõ độ co dãn không-thời gian xung quanh một hạt vật chất. Khi ta đưa tay tới một vật thể nào đó, ở khoảng cách còn xa, lực đẩy Archimed hầu như không xuất hiện, có chăng chỉ là lực hút rất nhỏ nào đó, thậm chí ta không cảm giác thấy. Khi ta chạm tay vào vật thể, điều đó có nghĩa là, khoảng cách giữa phần tử hạt vật chất  ngoài cùng của vật thể và tay ta giảm xuống còn rất nhỏ, lực Archimedes trở nên lớn hơn lực hấp dẫn, đẩy vào tay ta. Nếu không có lực này, tay ta “xuyên qua” vật thể mà không bị cản trở nào. Lực đẩy vào tay ta tác động lên các giác quan, làm ta nhận biết tiếp xúc về hình dáng, kích thước của vật. Như vậy, lực Archimed khi lớn hơn lực hút (hấp dẫn) chính là cơ sở cho chúng ta cảm giác và nhận thức về hình dáng, kích thước vật thể trong tiếp xúc. Một vật thể trở nên hữu hình hay vô hình trong tiếp xúc chính là do lực Archimed quyết định. Đó là lý do mà “linh hồn”- một trường khí âm dương thứ cấp có ζ nhỏ - có thể dễ dàng xuyên qua một bức tường, do lực Archimed quá nhỏ.




 72 
 vào lúc: 03:14:24 AM Ngày 21 Tháng Năm, 2019 
Tác giả tmtd - Bài mới nhất gửi bởi quangtu123
Bài này có thể dùng tích phân.

Phương pháp OG? Có phải là dùng định lý điện thông không? Nếu đúng thì phải tìm một mặt đối xứng để xét. Nhưng đĩa tròn thì xem ra khó có mặt đối xứng nào cả...

 73 
 vào lúc: 03:10:54 AM Ngày 21 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Linhnguyen.sp - Bài mới nhất gửi bởi quangtu123
Câu 1: để tìm được chiều cao lơ lửng, bạn giải phương trình sau (biến h):

V.(khối lượng riêng bên trong)+m=V.(khối lượng riêng bên ngoài)

(khối lượng riêng bên ngoài phụ thuộc vào h), suy ra h.

Câu 2: tương tự, bạn giải phương trình biến V':

V'.(khối lượng riêng bên trong)+m=V'.(khối lượng riêng bên ngoài tại h=0)

Chúc thành công. 

 74 
 vào lúc: 12:52:14 AM Ngày 20 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Xuân Yumi
Điều chỉnh đáp án câu 37. Đáp án D. ( Cre: Thầy Đậu Quang Dương)

Cám ơn bạn Nam Vũ đã phát hiện và phản hồi trên group TVVL.
Link group: https://www.facebook.com/groups/4rumthuvienvatly/

 75 
 vào lúc: 10:10:52 PM Ngày 19 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Điền Quang
THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN VẬT LÝ LẦN 7 - 2019
Chúc mừng 3 bạn đứng đầu sẽ nhận được món quà của diễn đàn TVVL (TOP 3 chúng tôi căn cứ vào điểm số và thời gian nộp bài )
Câu trả lời cá nhân (Đúng/sai) sẽ được gửi vào email cá nhân ngay sau khi công bố kết quả chung.
Cám ơn tất cả các em đã tham dự !
Thi thử THPTQG Lần 8 - 2019  (Lần cuối) sẽ tổ chức vào 21g00, Chủ nhật, ngày 9/6/2019, chào đón các em cùng tới tham dự.
Có vài lưu ý nho nhỏ cho các em với những kỳ thi lần sau :
Lưu ý 1: Nộp bài đúng giờ 21h55, sau thời gian này chúng tôi sẽ k nhận bài làm và trao quà.
Lưu ý 2: Mối lần thi, diễn đàn đều ghim Link thi thử trong khung màu vàng rất nổi bật ở phía trên.
Lưu ý 3: Nếu trong quá trình làm bài, các em vẫn có thể chỉnh sửa câu trả lời nếu chưa tới thời gian nộp bài. Link chỉnh sửa xuất hiện ở thông báo ngay sau khi em nhấn nút gửi
Chị Xuân đã gửi kết quả cá nhân, câu đúng sai vào email, các em check email để biết mình sai ở đâu nhé

 76 
 vào lúc: 10:01:50 PM Ngày 19 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Điền Quang
Mọi người tải link đề thi, đáp án chi tiết tại đây: http://thuvienvatly.com/download/50190

 77 
 vào lúc: 09:59:18 PM Ngày 19 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Điền Quang
Đáp án chi tiết

 78 
 vào lúc: 09:38:59 PM Ngày 19 Tháng Năm, 2019 
Tác giả le tan hau - Bài mới nhất gửi bởi le tan hau
Điện năng được truyền đi từ một máy phát đến một khu dân cư bằng đường dây tải một pha, với hiệu
suất truyền tải 90%. Do nhu cầu tiêu thụ điện của khu dân cư tăng 11% nhưng chưa có điều kiện nâng công suất
máy phát, người ta dùng máy biến áp để tăng điện áp trước khi truyền đi. Coi hệ số công suất của hệ thống
không thay đổi. Tỉ số vòng dây giữa cuộn thứ cấp và cuộn sơ cấp là

 79 
 vào lúc: 08:59:59 PM Ngày 19 Tháng Năm, 2019 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Điền Quang
Thời gian tính theo đồng hồ sau:



 80 
 vào lúc: 06:48:05 PM Ngày 19 Tháng Năm, 2019 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     Nội dung đã pos:

    PHẦN I
          * Sự hình thành, phát triển của Vũ trụ
          1. Hệ qui chiếu trong Thuyết Tuyệt đối
          2. Thuyết Tuyệt đối và vận tốc ánh sáng


     Bình luận:
          1. Việc đưa ra khái niệm “Khí”, thoạt nhìn, có cảm giác gần giống khái niệm “ete” của giới khoa học thế kỷ 19. Tuy nhiên, hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau: Ete là một môi trường “nền”giả định cho hoạt động của vật chất, không khối lượng, chứ không là vật chất, thậm chí độc lập và không tương tác với vật chất. Ngược lại, “Khí” lại chính là vật chất, mọi hạt vật chất đều cấu tạo từ “Khí”. Ete đồng đều và cực kỳ cứng, trong khi đó, Khí có Khí âm và Khí dương và là một môi trường đàn hồi, mật độ của nó rất khác nhau trong Vũ trụ. Ete và không thời gian là vĩnh cửu, vô cùng vô tận độc lập với vật chất còn “Khí” và không thời gian chỉ là những mặt không thể tách rời của trường khí âm dương thể hiện thuộc tính vận động của trường khí âm dương và do đó chỉ tồn tại khi có trường khí âm dương mà thôi…
          Do đó, chúng ta không thể nhầm lẫn giữa ete và Khí.
          Khí chính là vật chất, không thể tách rời không gian và thời gian. Hễ ở đâu có không gian hay thời gian thì phải có Khí. Khí như thế nào thì không thời gian như thế đấy. Khí (vật chất), Không-thời gian là hai mặt không thể tách rời của trường khí âm dương.
          Chính vì không có khái niệm Khí là vật chất tràn đầy không gian mà khoa học không thấy được sự tác động của không gian vào các hiện tượng vật lý mà cho rằng không gian trống rỗng, không có năng lượng nên chẳng thể tác động được vào các hạt vật chất, dẫn đến lý giải các hiện tượng vật lý sảy ra không thỏa đáng. Thực ra, tác động này luôn luôn hiện hữu và nhiều khi có vai trò quan trọng.
          Thực ra, khoa học, từ sau khi thuyết tương đối của Einstein được công bố, đã biết, không thời gian gắn liền với vật chất, nhưng chỉ mới ở trên bình diện nhận thức sơ bộ, chưa đi vào thực chất, vì thế mới có khái niệm chân không có không thời gian mà lại vắng mặt vật chất. Đồng thời, người ta cũng đã và đang bàn luận rất nhiều về bản chất của không-thời gian mà không thể thống nhất, chưa hiểu được vì sao khi không có vật chất thì cũng chẳng thể có không-thời gian và cho rằng không thời gian thì vô cùng vô tận còn vật chất thì lại có giới hạn. Người ta cũng không thể hiểu tại sao thời gian chỉ trôi có một chiều (đó là hệ quả nguyên lý tương quan âm/dương luôn tăng) và do đó dưa ra những giả thuyết đầy mâu thuẫn như du hành trở về quá khứ khi vận tốc lớn hơn c. Cũng chính vì thế, người ta thấy nguyên lý không gian đồng tính và đẳng hướng là hiển nhiên mà không thấy rằng, vật chất vô cùng đa dạng thì Không-thời gian với tư cách là những mặt không thể tách rời của vật chất thì cũng không thể đồng nhất và đẳng hướng, mà tất yếu phải đa dạng tương ứng.
          2. Như vậy, Không-thời gian ở các vị trí khác nhau thì khác nhau ở điểm nào?
          Đó chính là sự khác nhau về tương quan dương “động”, âm “tịnh”, thể hiện qua hệ số co giãn không thời gian ζ khác nhau.
          Khái niệm độ co giãn không thời gian đã đưa thêm vào một thông số mới quan trọng trong khảo sát vận động của vật chất làm cho kết quả nghiên cứu phản ánh đầy đủ hơn thực tế khách quan. Khái niệm này cũng dẫn đến sự thay đổi trong việc xác định các hệ qui chiếu, tất nhiên ảnh hưởng lớn tới các kết quả nghiên cứu vật lý. Sự bất cập của Vật lý học hiện đại chính là bỏ qua độ co giãn không thời gian trong các khảo sát của mình về thế giới tự nhiên. Trong các trường hợp, độ co giãn không thời gian sấp sỉ bằng 1, các kết quả khảo sát vật lý của khoa học hiện tại không sai lệch nhiều so với thực tế khách quan, nhưng tại những vị trí không gian có độ co giãn lớn, sai lệch sẽ đáng kể, thậm chí làm thay đổi bản chất của hiện tượng vật lý cần khảo sát, đặc biệt khi người ta muốn nghiên cứu thời kỳ ban đầu của Vũ trụ khi độ co giãn không thời gian còn rất lớn.
          Thực ra khoa học hiện đại đã có nhận thức về độ co giãn không thời gian thể hiện qua những luận điểm về sự co lại của không gian, thời gian trong chuyển động với vận tốc cao hay sự “cong của không gian” tại những nơi có lực hấp dẫn lớn. Tuy nhiên, do không có khái niệm trường khí âm dương, nơi thống nhất không thời gian với nhau và với vật chất, nên không thấy được nguyên nhân và bản chất những ghi nhận đó, vì thế, không thể phát triển nghiên cứu tương xứng với tầm quan trọng của nó, thậm chí còn làm xuất hiện những kết luận, giả thuyết phi thực tế gây rất nhiều trì trệ, tốn kém tài nguyên trí tuệ và vật lực.
          Khi đưa khái niệm độ co dãn không thời gian vào nhiên cứu, chúng ta buộc phải từ bỏ những Hệ qui chiếu truyền thống mà phải dùng Hệ qui chiếu, như đã gọi là HQC-ζ. Việc này làm chúng ta rất khó nhọc vì thay đổi thói quen đã quá nhiều năm, nhưng không còn cách nào khác nếu chúng ta muốn có những kết quả đúng với chân lý. Để giảm thiểu những khó nhọc đó, chúng ta đã xây dựng một số nguyên tắc liên hệ HQC truyền thống và HQC-ζ.
          3. Khái niệm Khí âm, khí dương và thuộc tính dương tịnh âm động cho phép chúng ta rút ra một tính chất vô cùng quan trọng của trường khí âm dương (vật chất và không thời gian): Trường khí âm dương là một môi trường đàn hồi. Tính đàn hồi phụ thuộc độ co giãn không thời gian ζ. Chính vì tính đàn hồi này, theo lý thuyết đàn hồi, chúng ta thấy vận tốc truyền sóng trong không gian là vận tốc c = (E*/ρ)1/2  như nhau trong mọi HQC địa phương, nơi có cùng một giá trị ζ, là một hệ quả luận lý chứ không phải là một tiên đề, giúp chúng ta hiểu rõ bản chất của vận tốc ánh sáng trong không gian cũng giống như vận tốc âm thanh trong khí quyển hoặc trong nước hay trong môi trường đàn hồi bất kỳ nào. Đồng thời, chúng ta cũng thấy rõ ràng rằng, ở những nơi có độ co giãn không thời gian khác nhau, trong HQC-ζ tyệt đối, vận tốc ánh sáng sẽ khác nhau, và bằng cζ = c/ζ2 . Trong hệ thống của chúng ta, tiên đề về vận tốc ánh sáng của Einstein chỉ đúng cho HQC địa phương mà thôi (khi ζ = 1).
          4. Việc xác định vật chất là Khí trong Trường khí âm dương tạo nên cơ sở cho ta vận dụng những qui luật vận động và phát triển của Vũ trụ như đã nghiên cứu ở Chương I vào khảo sát vật lý của chúng ta trong chương này. Đó là các qui luật vận động và phát triển không ngừng dao động quanh trạng thái quân bình âm dương động với xu thế tương quan âm/dương luôn tăng, tính bất định và tất định trong thuộc tính sóng hạt và rối lượng tử, sự kết thúc của Vũ trụ trong qui luật Vạn sự có sinh thì có tử, tính dương động, tính âm tịnh, cảm ứng âm dương, … Đó là những qui luật rất cơ bản và phổ quát không chỉ trong vật lý mà còn trong bất kỳ một quá trình tự nhiên nào.
          5. Việc đưa ra khái niệm Tâm Vũ trụ, dẫn đến xác định hệ qui chiếu tuyệt đối đứng yên trong Vũ trụ làm cơ sở cho mọi chuyển động, có tính cách mạng trong nghiên cứu cơ học đồng thời lý giải được hiện tượng mà khoa học ngày nay còn đang lúng túng không giải quyết được, mặc dù rất đơn giản về mặt hiện tượng ví dụ như con lắc Foucaul.
          Từ đó, chúng ta có các HQC-ζ tuyệt đối, HQC-ζ tương đối và HQC địa phương làm cơ sở để khảo sát các quá trình vật lý.
          Chính vì thế, lý thuyết vật lý mà chúng ta đang khảo sát này có thể gọi là “Thuyết tuyệt đối”, ngụ ý chuyển động trong Vũ trụ còn có tính tuyệt đối.
          Tóm lại, những khái niệm mới trong nghiên cứu Vật lý được rút ra từ học thuyết ADNH cho ta cách tiếp cận mới gần hơn tới chân lý, toàn diện hơn và đặc biệt, vai trò của triết học trở nên rất quan trọng, có tính dẫn đường trong nghiên cứu Vật lý. Vật lý học ngày nay phát triển có xu hướng không “đếm sỉa” gì đến triết học (cũng có thể do triết học hiện vẫn còn bất cập) dẫn đến những lý thuyết, giả định phi thực tế, làm chậm bước tiến của khoa học đồng thời lãng phí tài nguyên trí tuệ cũng như vật chất của con người.

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »

Tắt bộ gõ tiếng Việt [F12] Bỏ dấu tự động [F9] TELEX VNI VIQR VIQR* kiểm tra chính tả Đặt dấu âm cuối
Powered by SMF 1.1.11 | SMF © 2006, Simple Machines LLC © 2006 - 2012 Thư Viện Vật Lý.