Giai Nobel 2012
06:17:34 PM Ngày 29 Tháng Năm, 2020 *

Chào mừng bạn đến với Diễn Đàn Vật Lý.

Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Hay bạn đã đăng ký nhưng cần gửi lại email kích hoạt tài khoản?
Vui lòng nhập tên Đăng nhập với password, và thời gian tự động thoát





Lưu ý: Đây là diễn đàn của Thư Viện Vật Lý. Tài khoản ở Diễn Đàn Vật Lý khác với tài khoản ở trang chủ Thuvienvatly.com. Nếu chưa có tài khoản ở diễn đàn, bạn vui lòng tạo một tài khoản (chỉ mất khoảng 1 phút!!). Cảm ơn các bạn.
Phòng chát chít
Bạn cần đăng nhập để tham gia thảo luận
Vật lý 360 Độ
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 90)
25/05/2020
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 89)
25/05/2020
Câu chuyện phát minh laser: Và thế là có ánh sáng!
22/05/2020
Tìm hiểu nhanh về Vật chất (Phần 9-Hết)
21/05/2020
Bảng tuần hoàn hóa học tốc hành (Phần 100-Hết)
19/05/2020
Bảng tuần hoàn hóa học tốc hành (Phần 99)
19/05/2020

follow TVVL Twitter Facebook Youtube Scirbd Rss Rss
  Trang chủ Diễn đàn Tìm kiếm Đăng nhập Đăng ký  


Quy định cần thiết


Chào mừng các bạn đến với diễn đàn Thư Viện Vật Lý
☞ THI THỬ THPT QG LẦN 6 MÔN VẬT LÝ 2020 - 21h00 NGÀY 16-5-2020 ☜

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 21 
 vào lúc: 05:18:53 PM Ngày 08 Tháng Năm, 2020 
Tác giả TQTQTQTQ - Bài mới nhất gửi bởi TQTQTQTQ
     THUYẾT TUYỆT ĐỐI VÀ VẤN ĐỀ VẬT CHẤT TỐI
     Vật chất tối là khái niệm của vật lý học hiện đại về một dạng vật chất không nhìn thấy được, chiếm tới 75% tổng lượng vật chất trong Vũ trụ, mà cho tới nay người ta còn rất mơ hồ, chưa từng phát hiện được, cũng chưa có một hiểu biết nào về thuộc tính, bản chất cũng như sự phân bố của chúng. Giả thuyết này được đưa ra chỉ khi người ta phát hiện sự không thống nhất về kết quả của các phép đo khoảng cách giữa các thiên hà và các vì sao.
     Thuyết Tuyệt đối đã giải quyết vấn đề này một cách rốt ráo.
     Theo Thuyết Tuyệt đối, vật chất tối chính là vật chất có độ co dãn không thời gian ζ nhỏ hơn Q hay τ >1. Vật chất thông thường mà chúng ta biết có ζ = Q hay τ = 1. Với các thông số này, rõ ràng lực Archimed rất nhỏ nên không thể thấy được biên của vật chất, hạt vật chất thông thường dễ dàng xuyên qua chúng mà không bị cản trở gì. Điều đó cũng làm cho nó trong suốt và ta không thể nhìn thấy chúng, mặc dù chúng phân bố xung quanh những hạt vật chất thông thường theo hệ số co dãn không thời gian ζ giảm dần theo khoảng cách. Mật độ của vật chất tối được xác định theo công thức:
              ρ = ρmaxexp(1-τ) = ρmaxexp(1-Q/ζ)
     Vật chất tối tràn ngập trong không gian Vũ trụ. Trong không gian của chúng ta đang sống có ζ = 1 hay τ = Q thí mật độ vật chất tối là:
              ρ = ρ0 = ρmaxexp(1-Q)
     Khi Q có giá trị vào khoảng hơn 300 thì mật độ này rất nhỏ, khiến chúng ta không cảm thấy sự hiện diện của chúng. Nhưng khi ở gần lỗ đen Vũ trụ thì mật độ này khá lớn.
     Tuy mật độ rất nhỏ nhưng trong không gian Vũ trụ rất lớn nên khối lượng vật chất tối trong Vũ trụ lại rất lớn. Tỷ số khối lượng vật chất tối và vật chất thông thường trong Vũ trụ có thể tính theo công thức sau:
              K = 24k32max
     Ở đây, τmax khoảng 450, k khoảng 1038
     Do đó, tỷ số khối lượng vật chất thông thường chia cho vật chất tối cực kỳ nhỏ bé, nhỏ hơn rất nhiều so với ước tính của khoa học hiện đại.
     Mời các bạn cho ý kiến.
     Thân ái!

 22 
 vào lúc: 04:33:01 PM Ngày 21 Tháng Tư, 2020 
Tác giả lanhuong2000 - Bài mới nhất gửi bởi lanhuong2000
Khi mua các sản phẩm dễ vỡ như gốm sứ, chén dĩa,đồ thờ, ấn triện,  mặt hàng điện tử thì ng ta thường sử dụng túi khí để chèn vào. Mục đích chính lá lợi dụng sự đàn hồi của túi khí để giảm xóc cho hàng hóa bên trong. Giúp các sản phẩm không bị vỡ trong quá trình vận chuyển.

 23 
 vào lúc: 10:51:37 AM Ngày 16 Tháng Tư, 2020 
Tác giả lynkliv - Bài mới nhất gửi bởi lynkliv
Vào những buổi tối mùa hè nóng nực bạn đã có kế hoạch gì cho mình chưa? Nếu chưa thì hãy cùng chúng mình ngắm bầu trời đầy sao nhé! Các chòm sao sẽ ngự trị trên bầu trời mùa hè bao gồm ba chòm sao sở hữu ba sao rất sáng, hình thành nên Tam giác Mùa hè gồm Thiên Nga, Thiên Ưng và Thiên Cầm, cùng với chòm sao Hoàng đạo Cung Thủ, Thiên Yết và Xà Phu.

1. Nhóm sao tam giác mùa hè
Tam giác mùa hè chỉ là mảng sao chứ KHÔNG PHẢI là chòm sao, mảng sao mang tính chất lịch sử. Và các bạn không nên bỏ qua chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó. Nhóm sao này là tập hợp của ba ngôi sao sáng nhất của ba chòm sao Thiên Cầm (Lyra), Thiên Ưng (Aquila) và chòm sao Thiên Nga (Cygnus). Cụ thể: sao Vega tên dân gian là Chức Nữ (đỉnh sáng nhất), sao Altair tên dân gian là Ngưu Lang (đỉnh sáng thứ hai), và sao Deneb tên dân gian là Thiên Tân (đỉnh sáng thứ ba) .


Chòm sao Thiên Cầm
Thiên Cầm là chòm sao nhỏ tọa lạc giữa các chòm Thiên Nga, Vũ Tiên (Hercules) và Thiên Long (Draco). Chòm này rất dễ nhận dạng nhờ hình dạng giống hình bình hành.

Chòm sao Thiên Cầm này là nhà của sao Vega màu trắng – xanh lấp lánh, ngôi sao sáng thứ 5 trên bầu trời đêm. Nó là một đỉnh của Tam giác mùa hè và là ngôi sao sáng nhất trong ba đỉnh tam giác, bạn có thể thấy nó ngay cả trong thành phố bị ô nhiễm ánh sáng. Và Chòm sao Thiên Cầm cũng là nhà của hai ngôi sao nổi tiếng khác Sheliak hay Beta Lyrae là ngôi sao đầu tiên thuộc dòng các ngôi sao biến quang kiểu Beta Lyrae, một lớp các ngôi sao nhị phân nằm gần nhau đến mức vật chất từ sao này chảy sang sao kia và các sao đều trở thành những vật thể có hình dạng giống quả trứng. Epsilon Lyrae, với biệt danh là sao Đôi Đôi, bao gồm hai hệ sao nhị phân quay quanh nhau. Nằm gần sao Vega, hệ này là mục tiêu quan sát phổ biến với các nhà thiên văn nghiệp dư.



Chòm sao Thiên Ưng
Chòm sao Aquila (Đại Bàng hoặc Thiên Ưng) là một trong 48 chòm sao cổ của Ptolemy và cũng là một trong 88 chòm sao hiện đại, nằm gần xích đạo của thiên cầu. Sao sáng nhất trong chòm sao là Altair (Ngưu Lang), là một trong các đỉnh của nhóm sao Tam giác mùa hè. Altair là sao dạng “A” hay sao trắng cách Trái Đất 17 năm ánh sáng và là một trong những sao gần nhất có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Sao Ngưu Lang, cùng với Beta Aquilae và Gamma Aquilae, tạo thành một đường nổi tiếng các sao, đôi khi được nói đến như là mỏ của con đại bàng (tức chòm sao Thiên Ưng).


Chòm sao Thiên Nga
Thiên Nga là một trong những chòm sao nổi bật nhất trong mùa hè. Các ngôi sao sáng nhất của chòm tạo thành một mảng sao được gọi là Bắc thập tự, rất dễ nhận diện trong các buổi tối mùa hè. Deneb, ngôi sao sáng nhất của chòm và cũng là một trong những sao sáng nhất trên bán thiên cầu Bắc, đánh dấu đuôi của Thiên Nga. Và là đỉnh sáng thứ ba của Tam giác mùa hè. Đó là sao cấp I nằm ở xa Trái Đất nhất, cách chúng ta khoảng 3550 năm ánh sáng .

Thiên Nga cũng sở hữu nhiều sao nổi bật khác. Albireo, hay Beta Cygni, là một hệ sao đôi rất được các nhà thiên văn nghiệp dư yêu thích do có màu sắc tương phản. Sao này đánh dấu đầu Thiên Nga và thỉnh thoảng được gọi là “ngôi sao mỏ chim”. Tiếp đến, sao Sadr, hay Gamma Cygni, nằm ở trung tâm của Thập tự bắc và đánh dấu ngực con chim Thiên Nga. Ngôi sao này được vây quanh bởi một tinh vân khuếch tán mang số hiệu IC 1318, thường được gọi là vùng Sadr (vùng Gamma Cygni).

Các vật thể sâu đầy thú vị nằm trong chòm Thiên Nga bao gồm nguồn phát tia X Thiên Nga X-1, hai cụm sao mở Messier 29 và Messier 30, Thiên hà Pháo hoa, và một số tinh vân nổi bật khác: Tinh vân Bồ nông, Tinh vân Lưỡi liềm và Tinh vân Mạng che.

Tam giác mùa hè đánh dấu cho các mùa rất tốt, khi những ngôi sao của Tam giác mùa hè xuất hiện ở bầu trời hướng đông khi chạng vạng thì đó là giữa tháng sáu – là thời điểm mùa xuân nhường chỗ lại cho mùa hè. Còn khi chúng lặn ở bầu trời hướng tây mỗi khi rạng đông là thời điểm mùa hè nhường chỗ lại cho mùa thu.

Câu chuyện Ngưu Lang – Chức Nữ
Trong dân gian Việt Nam, câu chuyện Ngưu Lang Chức Nữ gắn liền với những ngôi sao trong Tam giác mùa hè này. Sao Vega (sao Chức Nữ) và sao Altair (sao Ngưu Lang) chúng thật sự bị chia cắt bởi Dải Ngân Hà rực rỡ bắt ngang qua. Và sao Deneb (sao Thiên Tân) là nghĩa là bến của bầu trời chính là cái bến của dòng sông Ngân Hà này. Vậy câu chuyện Ngưu Lang – Chức Nữ như thế nào?

Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng Thượng đế, vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bễ việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.

Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình nên ra ơn cho hai người mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng 7 (âm lịch). Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu.

Thời bấy giờ sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được mời lên trời để xây cầu. Vì mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai, họ cãi nhau chí chóe nên đến kỳ hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy đầu sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều. Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh. Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân thì lấy làm gớm ghiếc, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu thì phải nhổ sạch lông đầu. Từ đó, cứ tới tháng bảy thì loài quạ lông thì xơ xác, đầu thì rụng hết lông.

Tuy nhiên sau một thời gian vì cảm thương cho sự chia lìa của cặp vợ chồng, Ngọc Hoàng đã trả lại hình hài cho những người thợ mộc và ra lệnh họ phải làm một cây cầu thật vững chắc để Ngưu Lang và Chức Nữ có thể gặp nhau.


Chòm sao hoàng đạo Cung Thủ, Thiên Yết và Xà Phu.
Cung Thủ
Cung Thủ (Sagittarius) nằm trong số những chòm sao nổi bật nhất của bầu trời mùa hè. Dễ dàng nhận dạng được nó nhờ mảng sao Ấm trà (Teapot), hình thành từ những vì sao sáng nhất của chòm. Nằm trong Dải Ngân hà, chòm sao này là bến đỗ cho rất nhiều thiên thể sâu tiêu biểu như:

M 22 (NGC 6656) là cụm sao cầu lớn nhất và nhiều sao nhất trong chòm sao Cung Thủ, cách Trái Đất mười nghìn năm ánh sáng.
M 23 (NGC 6494) là cụm sao mở cách Trái Đất 2150 năm ánh sáng, với hàng trăm sao nằm trên diện tích tương đương với đĩa Mặt Trăng.
Tinh vân Lagoon, M 8 (NGC 6523), nằm gần cụm sao NGC 6530 là tinh vân rất sáng, có thể quan sát bằng mắt thường. Tinh vân Laguna có các chấm đen được coi là mầm non sắp nở của các ngôi sao mới.
Tinh vân Trifid, M 20 nằm phía tây bắc đối với tinh vân Laguna, với ba vạch đen.
Với các thiên thể này bạn có thể quan sát bằng ống nhòm. Cung Thủ (Sagittarius) có hình một cung thủ tay giương cung tên, tượng trưng cho Chiron – người đã dạy nên nhiều anh hùng trong thần thoại Hy Lạp như Jason, Theseus, Achilles v.v… Tuy nhiên, Chòm Cung Thủ này thường hay bị nhầm lẫn là chòm sao Nhân Mã (Centaurus).

Nhóm sao Ấm trà thuộc chòm sao Cung Thủ thì nằm gần khu vực đông đúc của dải Ngân Hà và gần chòm sao Thiên Hạt

Thiên Yết
Thiên Yết (Scorpius – Con bọ cạp) là một trong các chòm sao trong hoàng Đạo. Nó là một chòm sao lớn nằm ở bầu trời phía nam gần trung tâm của Ngân Hà.

Thiên Yết là nhà của nhiều sao và thiên thể sâu thú vị. Hai ngôi sao sáng nhất của chòm, Antares và Shaula, nằm trong số những sao sáng nhất trên bầu trời. Antares đánh dấu trái tim của con bọ cạp, trong khi đó Shaula là một trong hai sao nằm ở chóp đuôi. Và các quần sao mở M6 (Quần sao Bướm) và M7 (Quần sao Ptolemy), các Quần sao cầu M4, M80.

Chòm sao Bọ Cạp
Truyền thuyết về chòm sao Bọ Cạp
Câu chuyện nổi tiếng nhất về chòm sao Bò Cạp rằng con Bò Cạp này bò ra khỏi mặt đất theo lệnh của Hera nhằm phục vụ cho việc báo thù. Đặc biệt, bà ta ra lệnh cho Bò Cạp tấn công Orin, cắn vào chân ông ta cho đến chết. Cả Orion và Bò Cạp đều được vinh danh cho tên những chòm sao, nhưng nằm ở vị trí đối nhau mà chúng không thể gặp nhau. Do đó, khi chòm Bò Cạp mọc thì chòm Orion lặn như thể vị thần khổng lồ của bầu trời này vẫn còn sợ con Bò Cạp.

Xà Phu
 Xà Phu (Ophiuchus) là một trong 48 chòm sao Ptolemy và cũng là một trong 88 chòm sao hiện đại, mang hình ảnh người chăn rắn hay được gọi là “Xà Phu”.

Chòm sao lớn này có diện tích 948 độ vuông, nằm trên cả hai nửa thiên cầu, xếp ở vị trí thứ 11 trong danh sách các chòm sao theo diện tích. Chòm sao này nằm trên hoàng đạo, giữa chòm sao Thiên Yết và Nhân Mã.

Chòm sao Xà Phu nằm kề các chòm sao khác là Vũ Tiên, Thiên Xứng, Cự Xà, Thiên Ưng. Ở Bắc Bán cầu, chòm sao này có thể quan sát được vào mùa hè. Xà Phu còn là chòm sao đặc biệt vì nó nằm giữa và chia chòm sao Cự Xà ra thành hai phần riêng biệt: đuôi Cự Xà và đầu Cự Xà.

 Xà Phu cũng là nơi cư ngụ của nhiều thiên thể sâu thú vị như: Tân tinh 1604, Tinh vân khuếch tán, Sao đôi, Cụm sao cầu M 9, M 10, M 12, M 14, M 19, M 62, M107, Cụm sao mở NGC 6633, NGC I.466.


Chòm sao Xà Phu
Trên đây là những gì chúng mình đã giới thiệu tới bạn các chòm sao trên bầu trời đêm mùa hè và truyền thuyết của một số chòm sao. Các bạn ạ, bầu trời sao luôn là màn trình diễn tuyệt vời, nó chỉ chờ chúng ta tới và thưởng thức. Hãy thử tưởng tượng mà xem vào buổi tối mùa hè bạn được ngắm bầu trời đầy sao tuyệt đẹp rồi mường tượng về truyền thuyết Ngưu Lang – Chức Nữ. Òa, thật tuyệt vời phải không? MeZOOM hi vọng rằng với bài viết trên có thể giúp bạn hiểu được một phần nào đó về các chòm sao mùa hè. Và chúc bạn sẽ có những buổi ngắm sao đầy thú vị và bổ ích.


 24 
 vào lúc: 10:13:57 AM Ngày 16 Tháng Tư, 2020 
Tác giả Nguyễn Giang - Bài mới nhất gửi bởi Nguyễn Giang
Vũ trụ, những vì sao, thiên thể ở nơi xa xôi có sự hấp dẫn kỳ lạ với con người. Nếu bạn là người đam mê khám phá thiên văn thì chắc hẳn bạn đã biết tác dụng chính của kính thiên văn trong việc hỗ trợ quan sát và nghiên cứu thiên văn là phóng đại thiên thể lên nhiều lần và tăng khả năng thu nhận ánh sáng từ các thiên thể. Nhưng để phát huy tối đa công dụng của kính thiên văn thì bạn cần hiểu rõ về nó thông qua các thông số kỹ thuật. Vậy những thông số kỹ thuật cơ bản của kính thiên văn là gì? Chúng ta cùng tìm hiểu ở bài viết này nhé!

1. Tên hãng sản xuất
Thông thường, khi mua một chiếc kính thiên văn thì điều đầu tiên mà các bạn quan tâm đó là hãng sản xuất. Điều này dễ hiểu thôi, vì trên thị trường có vô vàn loại kính thiên văn với các thương hiệu khác nhau và không phải thương hiệu nào cũng cũng sản xuất ra sản phẩm chất lượng. Tinh Vân xin giới thiệu tới các bạn một số thương hiệu kính thiên văn chất lượng, uy tín mà giá cả phải chăng trên thị trường hiện nay: Celestron, Meade, Bosma, Bresser, …



2. Đường kính vật kính (Diameter) của kính thiên văn
Đường kính vật kính ký hiệu là D. Đơn vị thông thường là milimet. Vật kính ở đây có thể là gương hoặc thấu kính. Trong một số trường hợp, đường kính có thể biểu thị bằng đơn vị inch (chẳng hạn, 8″ hoặc 8 inch) với mỗi inch bằng 25,4 milimet. D càng lớn, tức độ mở càng lớn thì khả năng thu nhận ánh sáng của kính càng nhiều, khi đó độ phân giải của kính càng cao. Cần tránh hiểu nhầm thông tin này với tiêu cự kính thiên văn.

3. Khẩu độ (Aperture) của kính thiên văn

Khẩu độ của kính thiên văn được biểu thị dưới dạng chỉ số độ mở F (F-number) là tỉ số giữa tiêu cự f của vật kính với D.

Công thức: F = f / D
+ F = thông số cơ bản của kính thiên văn
+ D: đường kính vật kính
+ f: tiêu cự vật kính

Nếu F ≤ 6 , ta có “kính nhanh” (“fast” telescope), ngược lại, nếu f ≥ 8 ta có “kính chậm” (“slow” telescope), điều này có nghĩa là khi chụp ảnh thiên văn, để đạt được cùng độ sáng cho bức ảnh thì “kính nhanh” sẽ mất ít thời gian phơi sáng hơn so với “kính chậm”.
Ví dụ: Các trang web bán kính thiên văn thường kí hiệu các kính của mình dưới dạng D f/F chẳng hạn như 6” f/8, điều đó có nghĩa là kính thiên văn này có đường kính gương 6 inch, tiêu cự 6×8=48 inch.

4. Độ phóng đại (Magnification) của kính thiên văn

Độ phóng đại (M) của kính thiên văn được tính bởi công thức:
M = f / fe
+ M = thông số cơ bản của kính thiên văn
+ f : tiêu cự vật kính
+ fe : tiêu cự thị kính

Ví dụ: Một KTV 10” f/6 dùng kèm với thị kính 16mm. Vậy độ phóng đại của kính lúc này là bao nhiêu?
Giải: Tiêu cự vật kính f = 10×6 = 60 in = 1524 mm
—> Độ phóng đại M = fe/f = 1524/16 = 95x

Độ phóng đại của kính thực ra không phải là một thông số quan trọng lắm, vì việc thay đổi độ phóng đại được thực hiện rất đơn giản là chỉ cần thay đổi thị kính có tiêu cự khác nhau. Một thông số khác quan trọng hơn phụ thuộc vào độ mở ống kính, đó là khả năng phân giải của kính thiên văn.

5. Thiết kế quang học
Thiết kế quang học là thông tin chủ yếu được sử dụng để khẳng định chất lượng quang học của kính thiên văn. Tuy nhiên, đây là thông tin không bắt buộc và mang tính tương đối .

Achromatic (Tiêu sắc) là hệ thống thấu kính có khả năng hạn chế được sắc sai (Chromatic) và cầu sai (Spherical aberration). Achromatic thông thường chỉ hạn chế được sắc sai và cầu sai gây ra bởi các buớc sóng tập trung ở giữa dải phổ khả kiến như vàng, xanh lục. Càng tiến về 2 đầu dải phổ (đỏ và lam), quang sai càng nặng hơn và trở nên rất nghiêm trọng nếu như sử dụng ở dải cận hồng ngoại và tử ngoại gần. Đa phần các kính thiên văn 2 thành phần (doublet) được thiết kế để thoả mãn tiêu chuẩn Achromatic.

Apochromat (APO) và Superachromat là hệ thống thấu kính có khả năng hạn chế được sắc sai và cầu sai tốt hơn Achromatic. Hai hệ thống thấu kính Apochromat và Superachromat nếu được chế tạo tốt với dung sai nhiệt độ thấp có thể cho quang sai gần như không thể nhận ra được trên toàn bộ phổ khả kiến và các phổ lân cận.

6. Độ phân giải của kính (resolution)
Mọi hệ quang học trong thực tế đều không tuân theo một cách chính xác các định luật quang hình học cơ bản. Ngay cả các hệ quang được xem như là hoàn hảo cũng sẽ cho ảnh của một nguồn sáng điểm (một ngôi sao có thể được xem là một nguồn sáng điểm) là một đĩa nhiễu xạ (Airy disk), tức có kích thước để đo đạc được. Hiện tượng này gây ra do sự nhiễu xạ bởi ánh sáng cũng vốn mang bản chất sóng. Theo tiêu chuẩn Rayleigh, độ phân giải góc tới hạn được tính bằng:


trong đó λ là bước sóng ánh sáng.

Ví dụ: Với ánh sáng vàng có λ= 5.5*10-5cm (vốn nhạy nhất với mắt người), độ phân giải góc tính theo cung giây sẽ là:


Công thức trên áp dụng được cho cả KTV quang học lẫn KTV vô tuyến.

Như vậy, có thể thấy khả năng phân giải của KTV hoàn toàn phụ thuộc vào đường kính vật kính. D càng lớn, góc phân giải được càng nhỏ, tức khả năng phân giải của kính càng cao.

Ý nghĩa:
Độ phân giải của kính thể hiện vai trò rõ rệt nhất khi dùng kính để quan sát các sao đôi. Với các sao đôi mà hai sao ở quá gần nhau, nếu kính không đủ độ phân giải thì khi nhìn các sao này qua kính chúng cũng chỉ hiện lên như một sao duy nhất, cho dù ta có tăng độ phóng đại hết mức.

7. Kích thước vòng tròn thị kính h (Exit pupil)
Exit pupil là thuật ngữ để chỉ chùm sáng ra khỏi thị kính, kích thước của chùm sáng này phụ thuộc vào đường kính vật kính và độ phóng đại đang sử dụng:
h = D/M

Trong ví dụ trên, kích thước vòng tròn thị kính sẽ là h = 10/95 = 0.105 in = 2.67 mm.


Vòng tròn thị kính càng lớn thì ảnh nhận được sẽ càng sáng, nhưng độ phóng đại sử dụng càng hạ thấp, sẽ đến một điểm vòng tròn thị kính vượt quá đường kính của đồng tử mắt, khi đó ta chỉ còn nhìn thấy phần ánh sáng ở giữa. Lúc này ảnh quan sát được cũng giống như chúng ta che bớt phần ngoài của vật kính.

8. Độ phóng đại tối thiểu và tối đa của kính thiên văn

Độ phóng đại tối thiểu:
Như đã nói, kích thước vòng tròn thị kính nói chung không nên vượt quá kích cỡ đồng tử (con ngươi) mắt người trong điều kiện tối hoàn toàn (thường vào khoảng 7mm), nếu không sẽ có một phần ánh sáng từ KTV bị lãng phí vì không được mắt ta tiếp nhận hết. Bởi vì khi độ phóng đại của KTV càng giảm, kích thước vòng tròn thị kính càng tăng lên và một lúc nào đó nó sẽ vượt quá kích thước đồng tử, chính vì vậy mỗi KTV đều có một giới hạn dưới của độ phóng đại và được tính bằng:

m = 1.33D với D (cm)
m = 3.62D với D (in)

Độ phóng đại hữu dụng (độ phóng đại tối đa):
Đã có giới hạn dưới của độ phóng đại, vậy ắt hẳn cũng phải có giới hạn trên và đó chính là độ phóng đại hữu dụng của KTV. Theo lý thuyết, độ phóng đại của một KTV có thể tăng lên đến vô cùng, nhưng thực tế có nhiều yếu tố không cho phép thực hiện điều này, và một trong các yếu tố đó chính là khả năng phân giải của kính (đã đề cập ở trên). Để thõa mãn độ phân giải của ảnh (tức nhìn vào ảnh ta còn có thể phân biệt được các chi tiết trên đó) thì độ phóng đại của kính chỉ có thể tăng đến một giới hạn nào đó mà khi vượt quá giới hạn này ta sẽ không còn nhận biết được các chi tiết trên ảnh.

Hai hình ảnh so sánh Sao Mộc vẫn còn nằm trong độ phân giải tốt và ngược lại




Có một quy tắc để tính độ phóng đại hữu dụng là lấy đường kính vật kính (tính theo in) nhân 50 hoặc lấy đường kính vật kính (tính theo mm) nhân 2, tuy nhiên, công thức trên chỉ đúng khi điều kiện quan sát là hoàn hảo.

Ví dụ: Với kính 10” đã cho ban đầu, độ phóng đại hữu dụng sẽ là 10*50 = 500x.
Trong thực tế có rất nhiều yếu tố ngoại cảnh (về điều kiện quan sát) làm giá trị độ phóng đại hữu dụng không đạt tới con số đã tính toán

9. Trường nhìn (field of view)
– Trường nhìn biểu kiến của thị kính (Apparent field of view – AFV)
AFV là độ rộng của góc quan sát được khi nhìn qua thị kính (không cắm vào KTV), tính bằng độ. Mỗi loại thị kính sẽ có một trường nhìn biểu kiến khác nhau, từ nhỏ nhất như thị kính Huygen AFV chỉ có 25-35 độ cho đến siêu khủng như dòng thị kính cao cấp Ethos của Tele Vue có AFV lên đến 100 độ.

Trường nhìn biểu kiến của một số loại thị kính:


– Trường nhìn thực (True field of view – FOV)
Khác với AFV, FOV là trường nhìn khi đã lắp thị kính vào kính thiên văn. Nói một cách dễ hiểu thì trường nhìn thực chính là vùng trời mà bạn quan sát được qua KTV, cũng được tính bằng độ. Công thức tính như sau:
FOV= AFV / M (độ)
+ FOV: trường nhìn qua KTV (độ)
+ AFV: trường nhìn biểu kiến của thị kính (độ)
+ M: độ phóng đại
Tiếp tục lấy kính 10” f/6 và thị kính 16mm làm ví dụ, giả sử đây là thị kính Huygen có AFV 35 độ, khi đó FOV = 35/95 = 0,37(độ), lúc này nếu đem kính ngắm chị Hằng thì ta chỉ thấy được khoảng ¾ (vì mặt trăng có góc nhìn khoảng 0.5 độ)

10. Khoảng đặt mắt (Eye relief)
Khoảng đặt mắt là khoảng cách từ thị kính đến vị trí đặt mắt quan sát để trường nhìn thấy được là tối đa. Khoảng đặt mắt thường được lấy bằng tiêu cự thị kính (thực tế là nhỏ hơn một ít so với tiêu cự thị kính).

11. Cấp sao mờ nhất có thể thấy được qua kính thiên văn
mt = 6.8 + 5logD với D (cm)
mt = 8.8 + 5logD với D (in)

Ngoài các thông số kỹ thuật trên thì vẫn còn thông số mà các bạn cần phải quan tâm đó chính là kiểu kính thiên văn. Có một số kiểu kính thiên văn phổ biến nhất trên thị trường dân dụng là kiểu khúc xạ (Refractor), kiểu tổ hợp Catadioptric (phổ biến là thiết kế Schmidt, Maksutov và Dall–Kirkham), kiểu phản xạ (phổ biến là Newtonian và Ritchey–Chrétien)… Mỗi kiểu kính đều có ưu nhược điểm riêng và đánh vào nhiều nhu cầu với mức giá khác nhau. Chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề này trong bài viết khác. Mong rằng với bài viết này sẽ giúp bạn có thêm những kiến thức về kính thiên văn.

Trân trọng!



 25 
 vào lúc: 05:36:24 PM Ngày 13 Tháng Tư, 2020 
Tác giả trungph - Bài mới nhất gửi bởi trungph
Nhờ mọi người hướng dẫn dùm.

 26 
 vào lúc: 05:48:30 PM Ngày 10 Tháng Tư, 2020 
Tác giả Nguyễn Giang - Bài mới nhất gửi bởi Nguyễn Giang
Các nhà thiên văn học đặt cho kính thiên văn một cái tên rất đặc biệt là ‘Ống ánh sáng’. Nếu bạn đặt ‘ống ánh sáng’ ngoài trời vào ban đêm, nó sẽ thu hết ánh sáng từ một vật ở xa và giúp bạn nhìn thấy những điều kỳ diệu. Và việc phát minh ra kính thiên văn là bước tiến lớn đối với con người trong việc nghiên cứu không gian vũ trụ. Vậy kính thiên văn ra đời và phát triển như thế nào? Các bạn hãy cùng Tinh Vân chúng mình tìm hiểu nhé!!!

1. Từ “Ống kính ma thuật” của Hans Lippershey…
Cũng như nhiều phát minh lớn vào thời cổ và trung đại, kính thiên văn được sáng chế ra qua một sự kiện tình cờ may mắn. Đến cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17, việc chế tạo kính mắt đã trở thành phổ biến đã là điều kiện thuận lợi cho việc ra đời của kính thiên văn.

Một cơ hội may mắn đã đến với Hans Lippershey (1570-1619) là một nhà chế tạo kính mắt sống tại Middelburg, Hà Lan. Vào năm 1608, con trai Hans Lippershey, trong khi nghịch các kính mắt của bố, đã phát hiện ra và báo cho bố biết có thể nhìn thấy tháp chuông nhà thờ gần hơn, thậm chí thấy cả mấy con chim đang nấp dưới gác chuông  qua 2 kính mắt. Thay vì “đét” vào mông chú nhóc nghịch ngợm, Lippershey đã cùng “nghịch” với con trai.

Hans Lippershey đã nghiên cứu cẩn thận và phát hiện ra 2 kính mắt thích hợp đặt thẳng hàng nhau ở một khoảng cách nào đó, thật sự có tác dụng “kéo gần” lại những vật ở rất xa. Ông đã đưa ra nguyên lý phóng đại khi kết hợp các thấu kính và chế tạo ra ống kính nhìn xa, tiền thân của kính thiên văn quang học. Chiếc kính được gọi là “Chiếc ống ma thuật của Lippershey” đã nhanh chóng nổi tiếng khắp châu Âu.
Bản phác thảo cổ nhất mà người ta biết của ống kính trong một là thư viết vào tháng 8 năm 1609Lippershey

Phiên bản kính Lippershey của Public Observatory Philippus Lansbergen nhân dịp kỉ niệm 400 năm ngày ra đời của kính thiên văn
2. Kính thiên văn Galileo
Năm 1608, việc mà Hans Lippershey chế tạo ra ống kính nhìn xa được coi là cột mốc quan trọng trong lịch sử thiên văn học.Vì chỉ một năm sau đó, năm 1609, nhà bác học vĩ đại Galileo người Ý, trên nguyên lý kết hợp các thấu kính của Hans Lippershey – đã chế tạo ra những kính thiên văn có ống kính dài hơn, nâng độ phóng đại hơn gấp nhiều lần.

Galileo là người rất thông minh. Ông mau chóng nghĩ ra cách tự chế tạo kính thiên văn. Ông học cách mài thấu kính và tất cả những kỹ năng cần thiết khác. Không lâu sau ông chế tạo chiếc kính thiên văn có độ phóng đại 8 lần và 20 lần.


Kính thiên văn Galileo
Với chiếc kính thiên văn này, Galelio đã chứng minh được Aristotle đã sai lầm khi cho rằng bề mặt Mặt Trăng hoàn toàn bằng phẳng bởi ông có thể nhìn thấy những ngọn núi trên Mặt Trăng ‘lồi lõm, ngoằn ngoèo’.

Bản vẽ Mặt Trăng của Galileo
Galileo đã phát hiện ra sao Kim có dạng lưỡi liềm tựa như một mặt trăng bé xíu và sao Thổ tựa như một chiếc tách có 2 quai. Và ông cũng đã phát hiện sao Mộc có 4 vệ tinh bao quanh và Mặt trời cũng có chuyển động tự quay qua nghiên cứu các đốm đen mặt trời. Những điều này là bằng chứng thuyết phục, củng cố cho Thuyết Nhật tâm của Nicolai Copernics. Trái đất không còn là “cái rốn” của vũ trụ nữa, mà chỉ là một trong những hành tinh quay quanh mặt trời.

Cuối cùng, ông cũng đã thực hiện các nghiên cứu cơ bản về những ngôi sao băng và đường quỹ đạo parabol. Ông cũng phát minh ra nhiệt kế, kính hiển vi kép, cơ chế hoạt động của đồng hồ quả lắc và thậm chí cả máy hái cà chua.

3. Cải tiến của Kepler
Bằng những phát hiện của mình Galileo đã trao đổi và chia sẻ các kết quả khám phá với Kepler (sau này là tác giả của 3 định luật nổi tiếng về chuyển động của các hành tinh trong hệ mặt trời ). Do J.Kepler mắt kém đã rất khó khăn khi dùng kính Gallile có trường nhìn rất hẹp. Chỉ cần một rung động nhẹ là trăng sao đều “chạy” mất tiêu. Vốn là nhà toán học, ông đã nghiên cứu nguyên lý của kính và đề nghị dùng thấu kính hội tụ làm thị kính để mở rộng trường quan sát của kính và thế là Kính Kepler ra đời.

Chúng ta thấy với kính Kepler hình ảnh bị lộn ngược đầu. Nhưng dùng để quan sát thiên văn thì không thành vấn đề. Thật ra độ nét của kính Kepler không bằng kính Gallile, quang sai, đặc biệt là sắc sai cũng nhiều hơn nhất là ở độ phóng đại lớn. Để giảm bớt quang sai, thời đó, người ta chỉ có cách che bớt vật kính hay dùng vật kính có tiêu cự dài hơn. Và nhờ cải tiến của Kepler người ta nhận ra rằng số bội giác của kính thiên văn phụ thuộc vào thương số giữa tiêu cự của vật kính và thị kính (f1/f2). Với cải tiến quan trọng này lịch sử kính thiên văn và ngành vật lý thiên văn lại bước sang một trang mới trong cuộc chạy đua chế tạo kính thiên văn và khám phá Hệ Mặt trời.

4. Cuộc đua Kính thiên văn
Năm 1655 nhà vật lý người Hà lan Christiaan Huygen (1629-1695)
Năm 1655, nhà vật lý người Hà lan Christiaan Huygens (1629-1695) đã tìm ra Titan, vệ tinh lớn nhất của sao Thổ qua kính Kepler dài 12feet (khoảng 3.7m) do chính ông cùng người em trai là Constantine chế tạo. Ông còn ghi nhận được chỏm băng tại cực sao Hỏa và sao Mộc không có dạng đĩa tròn mà lại phình ra ở xích đạo. Để gọn nhẹ hơn, ông đã bỏ thân ống kính, lắp vật kính lên một trụ cao và chỉnh hướng bằng dây cáp. Sau này nó được gọi là Kính thiên văn không khí-Air Telescope. Với kính này, lần đầu tiên, thay vì dùng 1 thấu kính đơn như Kepler, ông đã dùng thị kính ghép từ 2 thấu kính hội tụ để loại trừ sắc sai và nhất là có trường nhìn rộng hơn, cho phép tăng độ phóng đại của kính thiên văn. Kiểu thị kính Huyghens này đến nay vẫn còn thấy trong các kính hiển vi và kính thiên văn cũ vì rất đơn giản, dễ chế tạo và rẻ tiền nhưng chất lượng cũng khá tốt.
Năm 1665 Giovanni Cassini (1625-1712)
Năm 1665 G.Cassini nhận ra vành đai sao Thổ gồm 2 vành con, cách nhau một khoảng cách nhỏ. Khoảng cách này được gọi là khoảng chia Cassini. Năm 1684, ông phát hiện tiếp 2 vệ tinh sao Thổ. Năm 1690, ông quan sát được các chuyển động xoáy trong khí quyển sao Mộc. Các khám phá này được thực hiện qua kính thiên văn dài 100 và 136ft (30.5 và 41.5m) do Campani chế tạo. Chiếc kính 136ft mà Giovanni Cassini đã dùng để phát hiện ra vệ tinh Rhea của Sao Thổ cũng là do Giuseppe Campani chế tạo.

Năm 1673, nhà thiên văn người Đức Johanes Hevelius (1611-1687)
Năm 1673, nhà thiên văn Đức Johanes Hevelius (1611-1687) đã lần lượt chế tạo 2 kính dài đến 60 và 150ft, có vật kính đường kính đến 20cm. Các kính này không thực sự hoạt động hiệu quả vì rất khó xử dụng, ống kính quá dài bị võng xuống, chỉ một cơn gió nhẹ cũng bị rung động. Thân ống Kính 150ft được chế tạo dưới dạng khung hở để giảm trọng lượng và rung động nhưng lại dễ bị nhiễu loạn hình ảnh khi có gió.
Kính thiên văn dài 60 và 150ft (18.5 và 46m) của J.Heveluis.
Bạn hãy hình dung cách chỉnh hướng ống kính dài như vậy ra sao nhé !
Đặc biệt là khi ngắm các ngôi sao gần thiên đỉnh !
Cũng trong khoảng thời gian đó Năm 1668 ở một đất nước khác sau nhiều lần thử nghiệm Newton đã chế tạo thành công kính thiên văn phản xạ mở đầu cho lịch sử ra đời của kính thiên văn hiện đại ngày nay.



Nguyên tắc hoạt động kính thiên văn phản xạ
Chỉ vài năm sau Newton, một loại kính phản xạ khác đã ra đời: kính Cassegrain, dường như do Laurent Cassegrain (1629-1693) một linh mục và là giáo viên người Pháp thiết kế. Khác với kính thiên văn phản xạ của Newton sử dụng gương cầu lõm cassegrain đã sử dụng gương cầu lồi. Do thời kì đó chưa có phương pháp kiểm tra gương cầu nên thiết kế của Cassegrain bị lãng quên gần 200 năm.

Năm 1722, John Hadley (1682-1744)

Năm 1722, John Hadley (1682-1744) chế tạo một kính kiểu Newton lớn hơn và trưng bày tại Hội Hoàng gia Anh quốc. Kính này có gương đồng bạch đường kính 15cm, tiêu cự 159cm và ghép cố định với 1 thị kính cho số bội giác lên tới 230. J.Hadley đã tìm ra phương pháp kiểm tra dạng bề mặt gương và công nghệ mài tạo dạng bề mặt chính xác cho gương cầu. Thành công và kinh nghiệm của Hadley đã khuyến khích và giúp nhiều người khác tham gia chế tạo kính thiên văn phản xạ trong đó có cả những nhà thiên văn, nhà vật lý, nhà sản xuất kính như James Short, Molyneux …và cả những “tay mơ” yêu thích thiên văn. Sau thành công của John Hadley lịch sử kính thiên văn lại bước sang một trang mới của những chiếc kính thiên văn phản xạ.

Sau thành công của John Hadley lịch sử kính thiên văn lại bước sang một trang mới của những chiếc kính thiên văn phản xạ.


Kính thiên văn phản xạ cấu tạo theo kiểu Cassegrain đường kính 16in (40cm) tại đài thiên văn ĐHSP Hà Nội.

Năm 1778, Frederick William Herschel (1738-1832)
Frederick William Herschel (1738-1832) là một nhạc sĩ tài năng thích toán học và thiên văn học. Năm 1778, sau gần 5 năm học hỏi, nghiên cứu, thử nghiệm ông đã chế tạo thành công chiếc kính phản xạ đầu tiên của mình . Kính có gương đồng bạch đường kính 16cm, tiêu cự 210cm tức là xấp xỉ kính của Hadley 50 năm trước. Kính có chất lượng rất tốt, qua kính này, ngày 13 tháng 3 năm 1781, ông đã phát hiện ra hành tinh Thiên vương, Uranus, hành tinh thứ 6 trong hệ Mặt trời.

Kính thiên văn phản xạ khổng lồ của nhà thiên văn Frederick William Herschel

Năm 1845, Ai len William Parsons (1800-1867)
Sau W.Herschel, chiếc kính thiên văn phản xạ lớn nhất có gương bằng đồng bạch do nhà thiên văn Ai len William Parsons (1800-1867), bá tước đời thứ 3 xứ Rosse (thường được gọi là Lord Rosse) chế tạo và đặt tại Parsonstown, Ai len vào năm 1845. Gương có đường kính khoảng 1,8m, tiêu cự 17m. Phôi gương khi đúc dày gần 15cm và nặng hơn 4 tấn !

Kính thiên văn phản xạ khổng lồ của nhà thiên văn Ai len William Parsons
Cùng sự phát triển của kính thiên văn, các nhà thiên văn học đã không ngừng nghiên cứu không gian vũ trụ với mong muốn sẽ cung cấp những cảnh quan kỳ diệu của vũ trụ, giúp giải quyết nhiều hơn những điều bí ẩn bên ngoài vũ trụ bao la của chúng ta.

Trích dẫn: https://tinhvan.net/cau-chuyen-ve-chiec-kinh-thien-van/

 27 
 vào lúc: 05:30:42 PM Ngày 10 Tháng Tư, 2020 
Tác giả lynkliv - Bài mới nhất gửi bởi lynkliv
Thiên hà là một tập hợp khổng lồ các ngôi sao, khí và bụi được liên kết với nhau bởi lực hấp dẫn. Các thiên hà có thể rất rộng lớn, lên tới một nghìn tỉ ngôi sao, cũng có thể rất nhỏ bé, chỉ có vài triệu sao. Các thiên hà có rất nhiều hình dạng, từ những đám mây sao khổng lồ cho đến những hình xoắn ốc phức tạp với các nhánh rõ rệt chứa đầy sao. Kích thước của chúng dao động trong khoảng vài nghìn năm ánh sáng cho tới hơn 100000 năm ánh sáng.

Mặt Trời của chúng ta chỉ là một trong số hàng tỉ ngôi sao thuộc thiên hà Milky Way (Dải Ngân Hà), và chính thiên hà của chúng ta cũng chỉ là một trong hàng trăm tỉ thiên hà khác.

Theo Digital Trends, các thiên hà không hề ở yên một chỗ. Tuy cách xa nhau nhiều năm ánh sáng, chúng liên tục di chuyển dưới tác động của trọng lực từ các thiên hà khác, như thể đang cùng tham gia một vũ điệu vũ trụ nào đó. Các thiên hà cũng giống như các hành tinh và các hệ hành tinh, những thiên hà ở gần nhau có xu hướng tiến lại gần nhau, va đập vào nhau, tạo thành một thiên hà lớn hơn. Vậy việc hợp nhất thiên hà xảy ra khi nào các bạn hãy cùng tìm hiểu với chúng mình qua bài viết này nhé!

1. Hợp nhất thiên hà
Hợp nhất thiên hà có thể xảy ra khi hai (hoặc nhiều) thiên hà va chạm. Chúng là loại tương tác bạo lực nhất của thiên hà. Sự tương tác hấp dẫn giữa các thiên hà và ma sát giữa khí và bụi có ảnh hưởng lớn đến các thiên hà liên quan. Hiệu quả chính xác của các vụ sáp nhập này phụ thuộc vào rất nhiều thông số như: góc va chạm, tốc độ và kích thước cũng như thành phần tương đối.

Khi có 2 thiên hà (hoặc nhiều hơn) di chuyển gần nhau, chúng bị hút bởi ảnh hưởng của trọng lực khổng lồ từ cả 2 và bắt đầu hợp nhất. Quá trình này rất nhiều may rủi, có thể cả 2 sẽ cùng bị tiêu diệt, nhưng cũng có thể hợp thể thành công và sinh ra một siêu thiên hà. Và đây hiện đang là một lĩnh vực mà các nhà thiên văn nghiên cứu cực kỳ tích cực.

Các thiên hà NGC 4676 A & B đang trong quá trình hợp nhất.

2. Hình ảnh kỳ diệu khi hai thiên hà hợp nhất thành một siêu thiên hà
Một ví dụ về hai thiên hà hợp thể là kính viễn vọng không gian Hubble của NASA ghi lại hình ảnh đầy kinh ngạc về 2 thiên hà va chạm và hợp nhất thành một siêu thiên hà. Các thiên hà này gọi chung là NGC 6052, nằm trong chòm sao Hercules, cách Trái Đất khoảng 230 triệu năm ánh sáng.

Những thiên hà này được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1784 bởi nhà thiên văn William Herschel. Tuy nhiên, cặp đôi ban đầu được cho rằng chỉ là một thiên hà đơn lẻ vì hình dạng kỳ lạ của chúng. Tuy nhiên theo thời gian, người ta xác định được rằng NGC 6052 thực chất là 2 thiên hà riêng biệt.

Không giống như các cặp thiên hà khác đập mạnh vào nhau, gây ra cái chết của một trong 2 thiên hà, cặp đôi đặc biệt này rất hài hòa với nhau, dẫn đến kết quả là một thiên hà ổn định, to lớn ra đời.

Hình ảnh thiên hà NGC 6052 được kính viễn vọng Hubble chụp trong khoảnh khắc hợp nhất

Tuy nhiên, không phải cuộc “gặp gỡ” nào cũng diễn ra “hòa hợp”. Ví dụ như Thiên hà Milky Way của chúng ta rất có thể sẽ bị hủy diệt khi Thiên hà Andromeda đến gần. Chúng ta cùng tìm hiểu nhé!!!

3. Thiên hà Tiên Nữ có thể nuốt thiên hà chứa trái đất

Nghiên cứu đứng đầu bởi nhà thiên văn Dougal Mackey từ Đại học Quốc gia Úc cho thấy thiên hà Tiên Nữ (Andromeda) – một trong các thiên hà gần với chúng ta nhất, đang có những dấu hiệu chuẩn bị cho sự hợp nhất trong tương lai với thiên hà Milky Way của chúng ta. Trước đó, nó đã có lịch sử dữ dội của một “quái vật vũ trụ” thực thụ.
“Tiên nữ” Andromeda là một quái vật vũ trụ thực thụ, và chúng ta là nạn nhân tiếp theo – ảnh: NASA
Thực ra bản thân Milky Way của chúng ta cũng thuộc dạng “quái vật” như hầu hết các thiên hà cỡ lớn khác trong vũ trụ. Nó đã nhiều lần ngấu nghiến các thiên hà nhỏ hơn để duy trì hình dạng xoắn ốc đẹp đẽ.

Còn Andromeda, đó cũng là một thiên hà xoắn ốc tuyệt đẹp, ước tính đường kính có thể nhỏ hơn một chút hoặc lớn một chút so với Milky Way (tài liệu thiên văn cho thấy Milky Way có thể có đường kính 100.000-180.000 năm sánh sáng; Andromeda khoảng trên 110.000 năm ánh sáng). Nó cũng chứa số sao vượt trội so với thiên hà của chúng ta: 1 nghìn tỉ ; trong khi Milky Way chỉ có khoảng 200-400 tỉ ngôi sao. Theo nghiên cứu mới đây, cho thấy “Tiên Nữ” là một quái vật còn ghê gớm hơn Milky Way.

Các nhà khoa học đã dùng dữ liệu của 5 kính viễn vọng tối tân khác nhau để quan sát quầng sáng khuếch tán của các ngôi sao ở rìa quỹ đạo Andromeda và phát hiện ít nhất 2 cụm sao có quỹ đạo và vận tốc riêng biệt, không khớp với phần còn lại của thiên hà. Chúng chính là tàn dư của 2 thiên hà lùn cổ đại từng bị nuốt chửng. Xét về tổng thể, quầng sao của Andromeda phức tạp hơn nhiều, cho thấy nó đã từng nuốt nhiều thiên hà khác hơn Milky Way.

Trong tương lai, 2 quái vật vũ trụ to lớn này sẽ có một trận chiến khốc liệt để hợp nhất thành một thiên hà khổng lồ. Điều đó có thể đồng nghĩa với sự thay đổi, có thể là tốt, có thể là sự hủy diệt lên vô số hệ hành tinh trong Milky Way.

Nhưng tin vui là bạn sẽ không sống đủ lâu để kịp lo lắng về quái vật Andromeda. Bởi lẽ, để 2 thiên hà nuốt nhau, chúng sẽ cần một quãng thời gian cực kỳ dài. Một số nghiên cứu trước đó tính toán vụ đụng độ chỉ thực sự xảy ra trong vòng 2 tỉ năm tới. Và nghiên cứu vừa công bố trên tạp chí khoa học Nature.


 28 
 vào lúc: 10:45:43 AM Ngày 09 Tháng Tư, 2020 
Tác giả Bkteam - Bài mới nhất gửi bởi tinhtruong
một ống dây có dòng điện I = 25A chạy qua . biết cứ mỗi mét chiều dài của ống dây được quấn 1800 vòng . độ lớn cảm ứng từ trong lồng ống dây có chiều dài là 20 cm .... Ai giải thích dùm mình đi ạ

 29 
 vào lúc: 05:39:43 PM Ngày 07 Tháng Tư, 2020 
Tác giả luoi - Bài mới nhất gửi bởi luoi
Xem trên kênh YouTube của thầy Phúc.
https://m.youtube.com/watch?v=xSo_LYVEaIc

 30 
 vào lúc: 10:11:33 PM Ngày 04 Tháng Tư, 2020 
Tác giả Điền Quang - Bài mới nhất gửi bởi Xuân Yumi
THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN VẬT LÝ LẦN 5 - 2020
Chúc mừng 3 bạn đứng đầu sẽ nhận được món quà của diễn đàn TVVL (TOP 3 chúng tôi căn cứ vào điểm số và thời gian nộp bài )
Câu trả lời cá nhân (Đúng/sai) sẽ được gửi vào email cá nhân ngay sau khi công bố kết quả chung.
Cám ơn tất cả các em đã tham dự !
Thi thử THPTQG Lần 6 - 2020  sẽ tổ chức vào 21g00, Thứ 7, ngày 25/4/2020, chào đón các em cùng tới tham dự.
Có vài lưu ý nho nhỏ cho các em với những kỳ thi lần sau :
Lưu ý 1: Nộp bài đúng giờ 21h55, sau thời gian này chúng tôi sẽ k nhận bài làm và trao quà.
Lưu ý 2: Mối lần thi, diễn đàn đều ghim Link thi thử trong khung màu vàng rất nổi bật ở phía trên.
Lưu ý 3: Nếu trong quá trình làm bài, các em vẫn có thể chỉnh sửa câu trả lời nếu chưa tới thời gian nộp bài. Link chỉnh sửa xuất hiện ở thông báo ngay sau khi em nhấn nút gửi
Chị đã gửi kết quả cá nhân, câu đúng sai vào email, các em check email để biết mình sai ở đâu nhé

Link đề thi & đáp án chi tiết:  http://thuvienvatly.com/download/51721

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »

Tắt bộ gõ tiếng Việt [F12] Bỏ dấu tự động [F9] TELEX VNI VIQR VIQR* kiểm tra chính tả Đặt dấu âm cuối
Powered by SMF 1.1.11 | SMF © 2006, Simple Machines LLC © 2006 - 2012 Thư Viện Vật Lý.